
Quê nội làng Lâu Thượng, huyện Hà Kỳ (nay là thành phố Việt Trì) tỉnh Phú Thọ; quê ngoại làng Hữu Dực, cùng huyện. Năm 1944 khi tuổi còn rất trẻ ông đã tham gia hoạt động Việt Minh, tham gia cách mạng Tháng 8. Ngày 7 tháng 11 năm 1949 ông được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam nay là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ năm 1950- 1954 ông Học trường Mỹ thuật khoá kháng chiến do hoạ sĩ Tô Ngọc Vân làm hiệu trưởng. Cùng khoá với ông còn có nhiều hoạ sĩ sau này đã trở thành những hoạ sĩ nổi tiếng như: Trọng Kiệm, Trần Lưu Hậu, Mai Long, Lê Lam, Lê Huy Hoà, Nguyễn Thế Vị, Ngô Tôn Đệ, Linh Chi, Đặng Đức, Ngô Mạnh Lân,... Ông là một trong những học sinh xuất sắc được hoạ sĩ Tô Ngọc Vân đánh giá cao Chiều ở bản- Bột màu (35 x 50)-1950.
Ngay trong thời kỳ học tập ông đã có nhiều tác phẩm tham gia triển lãm. Triển lãm hội hoạ năm 1951 tại Chiêm Hoá (Tuyên Quang) ông đã có bộ tranh cuộn “Chống rét châu bò” mà hoạ sĩ Tô Ngọc Vân đã nhận xét: “tả cảnh chăm sóc trâu bò, mầu sắc tươi trẻ, những hình dĩnh ngộ nhiều tính chất dân tộc”. Bộ tranh cuộn trên đã nhận được Giải Ba của triển lãm với số tiền là năm vạn đồng.
Năm 1954 ông cùng với đoàn quân chiến thắng về giải phóng Thủ đô. Ông từ Cục địch vận được cử ra tiếp quản trường Sơ cấp Mỹ nghệ ở phố Lý Thường Kiệt cùng với hoạ sĩ Nguyễn Trọng Kiệm. Ông tiếp tục cùng trường chuyển về Ô Chợ Dừa, Hà Nội. Năm 1959 ông tham gia xây dựng và giảng dạy trường Trung cấp Mỹ nghệ sau này đổi thành trường Trung cấp Mỹ thuật công nghiệp (1962) và Trường Đại học Mỹ thuật công nghiệp hiện nay. Là một giảng viên trẻ đầy tài năng và tâm huyết ông đã tham gia giảng dạy môn hình hoạ và trang trí, truyền thụ cho học sinh nhiều kiến thức về mỹ thuật và được học sinh yêu mến. Từ năm 1964 ông được chọn vào tổ sáng tác trực thuộc Hội Mỹ thuật Việt Nam, từ đó ông là một hoạ sĩ chuyên nghiệp dành toàn bộ thời gian cho sáng tác.
Trong những năm đầu giải phóng, xây dựng Miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà, bên cạnh công tác giảng dạy ông đã dành nhiều thời gian cho sáng tác. Nhiều tác phẩm của ông đã tham dự nhiều triển lãm lớn ở Thủ Đô như: triển lãm chào mừng giải phóng Thủ đô tháng 11/1954, triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1955, 1958, 1960, 1962... Là người say mê sáng tác ông đã rất thành công trong chất liệu sơn dầu và thuốc nước là hai chất liệu mà ông ưa thích.
Ông cũng đã bỏ nhiều thời gian đi thực tế tại nhiều vùng nông thôn Miền Bắc. Vì vậy nhiều tác phẩm của ông vẽ về phong cảnh nông thôn, lao động và sinh hoạt của người nông dân. Ông cũng là người vẽ nhiều tranh chân dung đặc biệt là tranh chân dung thiếu nữ. Tác phẩm của các chuyến đi thực tế đã được ông trưng bầy tại nhiều triển lãm ở Hà Nội và các địa phương. Tháng 6/1957 ông đã có trưng bầy 60 tác phẩm sơn dầu và thuốc nước trong triển lãm cá nhân tại Hải Phòng. Năm 1960 ông về thực tế tại Hợp tác xã nông nghiệp Lê Lợi, Kiến An, Hải Phòng, cùng sống và lao động, sản xuất với nông dân. Tháng 1/1960 ông trưng bày 110 tranh thuốc nước tại triển lãm riêng tại số 10 Hàng Đào, Hà Nội. Đặc biệt chuyến đi thực tế này đã giúp ông sáng tác thành công tác phẩm Một buổi cầy (85x105cm) - sơn dầu được giải Nhì tại triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1960 và đó là một trong những tác phẩm được trưng bầy đầu tiên tại Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam.
Sau triển lãm tại Hải phòng năm 1960, cứ hai năm một lần ông lại tổ chức triển lãm các tác phẩm mới tại nhà triển lãm số 10 Hàng Đào và sau này là nhà triển lãm 16 Ngô Quyền, Hà Nội; Tháng 12/1962 trưng bầy 77 tranh sơn dầu và màu nước; tháng 12/1964 trưng bầy 44 tranh mầu nước cùng hoạ sĩ Mai Long; tháng 12/1966 trưng bày 88 tranh sơn dầu; tháng 12/1968 trưng bày 78 tranh sơn dầu và mầu nước; 10/1970 trưng bày 77 tranh màu nước.
Sau giai đoạn này hoạ sĩ Lưu Công Nhân đã chuyển sang một giai đoạn sáng tác khác đó là thử nghiệm hội hoạ không hình (Peinture, non
figunative) bằng sơn dầu, suốt 10 năm liền ông thử nghiệm nhiều khuynh hướng hội hoạ phương tây ở xưởng vẽ.
Sau ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, ông cùng gia đình chuyển vào Tp. Hồ Chí Minh, nhưng ông vẫn đi sáng tác và trưng bầy ở nhiều nơi. Tháng 11/1983 ông trưng bày 40 tranh tác phẩm sơn dầu khổ lớn vẽ trong thời gian 13 năm (1970 - 1983). Tháng 4/1984 ông trưng bày 28 tranh bột màu tại Đà Nẵng; tháng 11/1985 trưng bầy 52 tranh màu nước tại Varsovie và Lublin; Tháng 4/1986 trưng bầy 9 tranh mầu bột cùng với hoạ sĩ Trần Anh Vinh tại thành phố Nha Trang; Tháng 2/1987 ông trưng bầy 42 tranh màu bột chọn lọc trong 35 sáng tác của mình trưng bầy tại Hà Nội...
Trong lời tự bạch năm 1987 nhân triển lãm 42 bức tranh trên giấy mở cửa từ 15/2 đến 28/2/1987 tại Hà Nội ông viết: “năm 1985 tôi bắt đầu hành trình ngắm nhìn và vẽ hiện thực có hình các danh lam, thắng cảnh đất nước và vẻ đẹp của con người : Huế, Hội An, Mỹ Sơn và các tỉnh khác. Tôi muốn sống, vẽ hướng về một cái gì phương đông, những xúc cảm tuôn trào từ lòng tôi theo cây bút lông, trải hối hả trên tờ giấy dó, đuổi bắt cái thần thái phương đông với mực đen, mầu nước. Bốn mươi năm vẽ nhiều lối, nhiều chất liệu, sống nhiều hoàn cảnh.Tôi nay đã thực sự được sống, làm việc theo sự lựa chọn của chính mình. Tôi trộm nghĩ phải chăng mình đã bắt đầu tìm thấy mình “.
Trong gần 60 năm sáng tạo nghệ thuật, hoạ sĩ Lưu Công Nhân đã đi nhiều nơi trên đất nước, tác phẩm của ông gắn bó với đời sống, ông rung cảm trước vẻ đẹp của người lao động, bằng xúc cảm tinh tế của người nghệ sĩ.
Ông đã đoạt được giải thưởng: Giải thưởng triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1951, giải thưởng triển lãm quốc tế Thanh niên tại Varsovie (áo) năm 1959 và Giải Nhì triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1960. Năm 2001 Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trao tặng hoạ sĩ Lưu Công Nhân giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật cho các tác phẩm: Chiều ở bản- Bột màu (35 x 50) - 1950, Một buổi cầy- Sơn dầu (81 x 100) - 1960, Trên xe tải- Sơn dầu (81 x 100) - 1957, Cầy - Sơn dầu (81 x 100) - 1960, Nông dân đi học - Sơn dầu (130 x 160) - 1977, Cổng thành- Sơn dầu (81 x 100) - 1985. Hội đồng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đã nhận xét: Lưu Công Nhân là hoạ sĩ sáng tác nhiều về nông thôn. Tài hoa trong sáng tạo, tác phẩm của ông về người nông dân và phong cảnh nông thôn sinh động, mầu sắc đẹp. Nhiều tác phẩm của ông có giá trị nghệ thuật, đã có ảnh hưởng đến lớp hoạ sĩ trẻ.
Ông được Đảng và Nhà nước khen tặng: Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Các Huy chương: “Vì Sự nghiệp Mỹ thuật”, “Vì Sự nghiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam”.
Hoạ sĩ Lưu Công Nhân là một trong những hoạ sĩ đi nhiều, vẽ nhiều, tôi đã đến thăm nhà ông khi ông trở lại Vĩnh Phúc trong một ngôi nhà nhỏ trên đường đi Tam Đảo, thăm xưởng vẽ của ông tại 209 bis đường Nguyễn Văn Thủ, Tp. Hồ Chí Minh và ngôi nhà ở 13 Bis, đường 3/4 thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng những năm cuối đời. Ông lúc nào cũng là người hào hoa, bình dị, mến khách và làm việc hết mình. Mỗi lần như vậy tôi lại được xem nhiều tác phẩm mới của ông. Hàng ngàn tác phẩm sơn dầu, thuốc nước, bột mầu trên giấy dó, thể hiện một tài năng hội hoạ, một bút pháp phóng khoáng, một cách nhìn tinh tế, thấm đẫm tình cảm của tác giả. Nhà văn Tô Hoài đã viết: “Lưu Công Nhân người của dọc đường kháng chiến và bình yên” còn trong cuốn sách giới thiệu tác phẩm của mình tặng tôi ông viết: “... một chút cuộc đời yêu và vẽ của Lưu Công Nhân”.
Hoạ sĩ Lưu Công Nhân đã về cõi vĩnh hằng, nhưng ấn tượng về ông một con người có vóc dáng cao lớn, thân thiện, quảng giao, một hoạ sĩ tài danh với nhiều tác phẩm xuất sắc trong nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại vẫn còn ở lại với chúng ta và thế hệ mai sau.