Ξ|Ξ   GƯƠNG SÁNG ::. DANH NHÂN LƯU TỘC.
Đăng ngày 27/1/2012
E-mail     Bản in

Nhà thơ Lưu Trọng Lư: “Vì yêu người lắm mới say thơ”
Lưu Trọng Văn, con trai nhà thơ Lưu Trọng Lư, đọc hai câu thơ: Đi giữa vườn nhân dạ ngẩn ngơ/ Vì yêu người lắm mới say thơ… Là thơ Lưu Trọng Lư đấy; mà đấy cũng là “châm ngôn nghệ thuật” của đời ông !


Tượng nhà thơ Lưu Trọng Lư do nghệ sĩ Phạm Văn Hạng nặn năm 1985.
 

“Em không nghe rừng thu

Lá thu kêu xào xạc

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng  khô”…

                        (Tiếng thu)

Dù không phải đang mùa thu, nhưng ngẫu cảm về một “Tiếng thu” thinh không, mở rộng biên độ trí tưởng về một miền thơ, một nền thơ thuần khiết; một sáng nọ tôi đã “lò mò” đến ngôi nhà vườn xinh xắn của nhà thơ - nhà báo Lưu Trọng Văn - người đang giữ hầu như toàn bộ tư liệu và kỷ vật của cha ông - nhà thơ Lưu Trọng Lư. Một căn nhà trắng xinh xắn, có những ô cửa mở trông ra khu vườn. Một khu vườn rộng gần tám trăm mét vuông có nhiều cây cỏ, lá hoa.

Tôi không giấu nổi thích thú của mình. Còn anh Văn thì chợt đọc hai câu thơ: Đi giữa vườn nhân dạ ngẩn ngơ/ Vì yêu người lắm mới say thơ… Là thơ Lưu Trọng Lư đấy; mà đấy cũng là “châm ngôn nghệ thuật” của đời ông! Một cuộc đời đầy sóng gió, nhưng cũng thật đẹp theo đúng nghĩa đời một thi sĩ!

Nhà thơ Lưu Trọng Lư sinh ngày 19/6/1911 tại Hạ Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình. Đấy là một vùng đất nằm ở phía nam bờ sông Gianh nơi có sông và núi đồi rất đẹp. Bố ông là một nhà Nho, có mối quan hệ thâm giao với những người yêu nước. Vì bất mãn chế độ phong kiến, nên đang làm quan tri huyện, khi về thọ tang cha mẹ, ông bỏ quan luôn, ở nhà dạy học. Ngay từ nhỏ, Lưu Trọng Lư đã được bố hướng theo con đường Nho học và làm thơ theo khuôn mẫu. Nhưng tính Lưu Trọng Lư vốn nghịch ngợm, ưa thích những điều khoáng đạt, mới mẻ.

Sau này, ông có kể với Lưu Trọng Văn rằng: “Hồi đó mỗi lần ông nội con nói chuyện thơ thường bắt bố đứng gãi lưng. Nhưng bố không thích nghe, chỉ thích được tếch đi chơi với lũ trẻ chăn trâu. Thế là bố “giở chiêu”… gãi thật mạnh vào lưng cụ. Ông cụ đau quá, đuổi bố đi. Bố chạy như bay ra ngoài cánh đồng với đám trẻ chăn trâu!…”.

 

Vợ chồng nhà thơ Lưu Trọng Lư cùng các con (chụp ở hiệu ảnh trên đường Nguyễn Thái Học năm 1963).

Ám ảnh bởi những cái siêu hình, ngay từ bé, Lưu Trọng Lư đã thích nằm xuống cỏ xanh, ngước mắt nhìn những đám mây trắng phiêu du trên bầu trời. Rồi cậu bé tự  hỏi. Sau những đám mây kia là cái gì? Và cái gì ở phía trên cao kia nữa?… Những câu hỏi như thế cứ đẩy đi mãi không thôi. Anh Văn còn kể, bàn tay của bố anh có “từ trường” mạnh lắm. Hồi học ở Liên Xô, anh thường mua bút bi gửi về cho cụ. Nhà thơ Lưu Trọng Lư rất thích bút mực màu xanh. Nhưng, cây bút bi nào tốt đến mấy, cụ cầm viết một lúc là… mực chảy tèm lem. Sau này, có một bác sĩ nói là, cụ có một “từ trường” rất mạnh, khá đặc biệt.

Lưu Trọng Lư mất ở Hà Nội ngày lập thu 1/7/1991, an táng tại Văn Điển. Năm năm sau, người con là nhà thơ - nhà báo Lưu Trọng Văn “tậu” được mảnh vườn rộng ở TP HCM nên đưa di hài cha vào, hỏa táng rồi đặt trong vườn nhà, coi như là đáp ứng di nguyện của người cha. Thực ra di nguyện đó chẳng nằm trong tờ di chúc hay lời trăng trối nào cả, mà đấy là tâm tư được gửi trong bài “Miếng đất”: “Tôi nào mơ nhà cao cửa rộng/ Chỉ xin dăm thước đất/ Mần cái ao nhỏ/ Đêm nằm mơ con mè con trắm chơi trăng/ Thảo lòng, trồng sống được vài cây để năm 2000 chăng chớ/ Vào tay áo này được đón gió ngàn khơi…”(Thơ di cảo).

Năm 1998 thì bà Mừng qua đời. Theo di nguyện, thi hài bà cũng mang đi hỏa táng và đem về đặt “nằm sóng đôi” bên người chồng. Anh Văn kể một câu chuyện nghe thật xúc động. Đó là khi mẹ mất được vài ngày, trong một lần soạn lại đồ đạc cũ, anh nhặt được một chiếc nhẫn vàng có khắc hai chữ L-M lồng vào nhau. Anh đã mang chiếc nhẫn ấy về Huế, trở lại những nơi trước đây mà cha mẹ anh đã đi qua. Mỗi nơi đến, anh đặt chiếc nhẫn xuống rồi chụp hình, coi như nhờ đất trời chứng giám cha mẹ anh đã từng yêu nhau, cưới nhau!…

Anh Văn cũng kể cho tôi nghe câu chuyện cảm động về bức thư pháp chữ Hán viết hai chữ Tiếng thu của một người đàn ông ở Hàng Khay (Bờ Hồ, Hà Nội). Đó là vào một ngày lập thu năm 2001, Lưu Trọng Văn đang uống cà phê ở một cái quán trên đường Hàng Khay. Một cái quán đẹp, mang không khí của Hà Nội xưa. Trong quán có treo những bức trướng, liễn; chữ viết rất đẹp, có hồn. Tò mò, Lưu Trọng Văn hỏi về chủ nhân của bức thư pháp ấy, thì người chủ quán cho biết người viết ấy là ông nội của một cô bé ở gần đây. Nói rồi người chủ quán cho địa chỉ.


 

  

Theo Trần Nhã Thuỵ