Ξ|Ξ   TƯƠNG TẾ ::. NGHĨA TÌNH ĐỒNG TỘC .
Đăng ngày 17/12/2013
E-mail     Bản in

TRI ÂN ĐỒNG ĐỘI
(LUUTOC.VN) - Giới thiệu phóng sự tự thuật của TS. Lưu Văn Thành, người may mắn được mời tham gia Chương trình “Nghĩa tình đồng đội”/Hành trình “Trở về chiến trường xưa - Tri ân đồng đội”. TS. Lưu Văn Thành đã thay mặt Tổ chức từ thiện In Sewa (Singapore)/Công ty CP Lưu Hưng Phát Việt Nam trao từ thiện cho hai trường Tiểu học Thanh Trạch 2 (Quảng Bình) và Mầm non 2, xã Vĩnh Long (Quảng Trị) và đặc biệt giới thiệu với Đoàn về hoàn cảnh bi thương của gia đình CCB Lưu Đức Thuận (Quảng Bình) có vợ và 6 người con bị bệnh thận do nhiễm chất độc hóa học của hậu quả chiến tranh.
 



Thỉnh 9 tiếng chuông cử hành Lễ dâng hương tưởng niệm các anh linh Liệt sỹ.

 
          Hành trình “Trở về chiến trường xưa – Tri ân đồng đội”, do Báo CCB Việt Nam và Tập đoàn Truyền thông quốc gia Việt Nam tổ chức từ ngày 05 - 08/12/2013 đã thành công rất tốt đẹp, để lại tình cảm sâu đậm và kỷ niệm ấm áp cho hương linh các Liệt sỹ, và nhân dân địa phương cùng tất cả CCB, BTC, những thành viên tham gia hành trình.  


Sư thầy Thích Diệu Hương thỉnh “Văn tế anh linh Liệt sỹ” tại Nghĩa trang Trường Sơn.


Thắp hương Mộ phần anh linh Liệt sỹ.


Toàn Đoàn chụp ảnh kỷ niệm tại xã Quảng Đông (Quảng Bình)
 
Đoàn gồm trên 100 thành viên, phần đông là cựu chiến binh đã từng tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, như Đại tá Nguyễn Minh Phương (TBT Báo CCB VN – Trưởng đoàn), Đại tá - Nhà báo Nguyễn Chi Phan, Đại tá biệt động – thương binh Ngô Xuân Tự (Hà Nội), Đại tá Đỗ Quang Cổ, Đại tá Phạm Sĩ Thảo, Ông Quý, CCB/Thương binh (mất 1 tay - nguyên PCT huyện Từ Liêm, Hà Nội), Thượng sỹ Đoàn Văn Đạt (Chủ hiệu bánh đậu xanh Nguyên Hương, Hải Dương), Thiếu tá Nguyễn Thị Mai (Giám đốc Công ty TNHH Nhật Mai), Đại tá Nguyễn Huy Đát (Giám đốc Công ty Trực Thăng Việt Nam), Đại tá Hiệp (Chủ tịch Hội Nghĩa Tình Đồng đội Hà Nội), Thiếu tá Hoàng Văn Hường (Giám đốc Binh đoàn 12 tại Quảng Trị)…; Quý Tăng ni, Phật tử từ các chùa Trung Hậu (Mê Linh, Hà Nội, do Thượng tọa Thích Chiếu Tạng chủ trì), chùa Diên Hựu - Một Cột, Hà Nội do Thượng tọa Thích Tâm Kiên chủ trì, chùa Hoàng Bà (TP Hưng Yên, do sư thầy Thích Đàm Đào chủ trì), chùa Phong Hanh (Hải Dương, do sư thầy Thích Diệu Hương chủ trì), chùa Linh Quang (Chương Mỹ, Hà Nội, do Sư thầy Thích Đàm Loan chủ trì), đền Thượng Tản Viên Sơn Thánh (Hà Tây, Hà Nội do Quan Thầy Đặng Thị Mát làm Thủ Đền) và các doanh nhân, doanh nghiệp tài trợ cho chương trình.
 

Chụp ảnh lưu niệm với trường Mầm non 2, xã Vĩnh Long.


Chụp ảnh kỷ niệm tại Gala của đoàn Đồng ca 7 CCB đặc công dù, dân tộc Thái, Mộc Châu.

 
          Tuy thời gian ngắn, nhưng Đoàn đã đến thăm viếng và dâng hương tại Đài tưởng niệm Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh), Nghĩa trang Trường Sơn (Quảng Trị), Nghĩa trang Đường 9 (Quảng Trị), Thành cổ Quảng Trị và khu Mộ phần Đại tướng Võ Nguyên Giáp  ở Quảng Bình; tham dự tổ chức Lễ cầu siêu và thả hoa đăng trên dòng sông Thạch Hãn; thắp hương tại phần mộ Liệt sỹ ở các nghĩa trang... Đoàn đã trao tặng quà, sổ tiết kiệm cho các gia đình anh hùng Liệt sỹ, thương binh, gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn, đồng bào bị ảnh hưởng nặng nề do bão lũ gây ra tại Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị (tổng số  300 xuất quà + 10 sổ tiết kiệm loại 5 triệu đồng + 100 áo khoác, sách, vở, bút + 02 hệ thống thiết bị và đồ dùng học tập cho 2 trường học và 50 triệu tiền mặt), tổng giá trị quà tặng khoảng 600 triệu đồng.
 

Trao quà tặng thân nhân 10 Nữ Anh hùng Liệt sỹ TNXP Ngã ba Đồng Lộc. 


Dâng hương tại Đài tưởng niệm Anh hùng Liệt sỹ TNXP, Ngã ba Đồng Lộc​


Mộ chí 10 Cô gái Anh hùng Liệt sỹ TNXP tại Ngã ba Đồng Lộc
 
 Đoàn đi đến đâu cũng được chính quyền, nhân dân và các tổ chức quần chúng của địa phương nhất là các Ban Quản lý các di tích và các nghĩa trang, Hội Phật giáo nhiệt tình đón tiếp và tạo điều kiện cho Đoàn tổ chức dâng hương, viếng mồ Liệt sỹ và trao quà từ thiện.
 

Đoàn và nhân dân dâng hương tại Nghĩa trang Trường Sơn.

Thắp hương các Mộ phần anh linh Liệt sỹ.

 
Là thành viên của Đoàn, tôi Lưu Văn Thành ở Hà Nội, quê gốc Vĩnh Phúc thay mặt cho Tổ chức Từ thiện In Sewa - Thakral (Singapore) và Công ty CP Lưu Hưng Phát Việt Nam (Hà Nội) phối hợp cùng Đoàn trao tặng quà ủng hộ cho hai trường Tiểu học Thanh Trạch 2 xã Bố Trạch và Mầm non 2 xã Vĩnh Long, Vĩnh Linh, Quảng Bình) cùng một số thiết bị và đồ dùng học tập với tổng trị giá: 105 triệu đồng (phân đều cho 2 trường). Đây là 2 trường bị thiệt hại nặng nề nhất do bão số 10 và 11 năm 2013 gây ra.
 

Ts. Lưu Văn Thành thay mặt Đoàn trao bảng tài trợ từ thiện cho Ông Phạm Văn Huyền, Hiệu trưởng Tiểu học Thanh Trạch 2.
 
Các cháu học sinh (Trường Tiểu học Thanh Trạch 2) múa hát chào mừng Đoàn.

Trong hành trình có rất nhiều hình ảnh và kỷ niệm cảm động, rất đáng trân trọng, điển hình là 03 câu chuyện về tâm Phật của những người lính, mà tôi ghi nhận được. Một là về Người hùng Ngô Xuân Tự (Đại tá Sư trưởng Sư đoàn 2 Quân chủ lực của QĐNDVN); Hai là về người lính mật mã của chế độ Sài Gòn Võ Đình Tọa tức Thượng tọa Thích Minh Thông; Ba là “đi một ngày đàng, học một sàng khôn”.

Dưới đây tôi xin giới thiệu tóm tắt ba câu chuyện cùng một số hình ảnh đặc sắc minh họa về chuyến đi. 


Mộ phần Đại tướng Võ Nguyên Giáp


Đoàn dâng hương kính cẩn tưởng niệm trước Mộ phần Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
 



Đoàn cùng Thượng tọa Thích Tâm Kiên cầu siêu cho các anh linh Liệt sỹ tại Ngã Ba Đồng Lộc.


Đoàn đến tham quan Thành cổ Quảng Trị.


Dâng vòng hoa lên Đài Tưởng niệm Nghĩa trang Trường Sơn


Ban Trị sự Hội Phật giáo Quảng Trị tiến hành Lễ Cầu siêu các anh linh Liệt sỹ hy sinh trên dòng sông Thạch Hãn.


Thi hát giao lưu theo chủ đề giữa hai đội tự chọn

 
Câu chuyện 1: Tự “cao su” - Tự “hố bom” - “Tự - tâm Phật”.

Người hùng Ngô Xuân Tự là người sôi nổi, ăn to nói lớn, tuy đã 68 tuổi nhưng thanh niên trai tráng vẫn còn thua xa, nhất là cơ bắp vẫn còn rắn chắc như thép. Theo lời Ông Tự kể thì sinh ra tại phường Bồ Đề (Gia Lâm, Hà Nội), trong một gia đình truyền thống cách mạng, nhưng bị mồ côi mẹ từ lúc sơ sinh. Mẹ Ông là Liệt sỹ Mạc Thị Gái (tên tục là Chíp, là chị của Anh hùng LLVTND Mạc Thị Bưởi). Bà Gái là du kích chống Pháp của địa phương. Khi sinh con được 3 tháng, Bà tham gia đánh hỗ trợ bộ đội đánh sân bay Gia Lâm, tiêu diệt 3 máy bay của Pháp và làm biến dạng sân bay. Trận đánh thắng lợi, tuy nhiên bà bị thương nên phải vượt qua sông Hồng để thoát vòng vây. Chẳng may Bà bị bắt, chúng tra tấn rất dã man (như đóng đinh vào tất cả 10 đầu ngón tay và ngón chân, cắt ngực đang đầy sữa nuôi con v.v.), nhưng bà không khai gì hết. Giặc bất lực đã xử tử Bà trên bãi giữa sông Hồng, phơi xác mấy ngày liền... Sư thầy Thích Thanh Thành cùng một số Phật tử chùa Bà Đá đã lấy trộm xác Bà về chôn trong khuôn viên của nhà chùa, mãi đến 1992 gia đình mới tìm thấy mộ.

 

Chùa Linh Sản (Đông Anh, Hà Nội) và Đại Tá Ngô Xuân Tự (người chủ chốt cùng dân làng xây dựng những năm giữa 1990).

Bố ông là Ngô Tý, biệt động hoạt động ở Hải Phòng. Sau khi mẹ mất, bố lấy vợ kế. Cả đời, ông còn nhớ chỉ được gặp bố 2 lần. Lần đầu khi ông lên 7 tuổi, luôn bị những trận mưa roi lên thân thể từ chủ nhà (khi đi ở trông con cho nhà địa chủ) và từ mẹ kế cực kỳ nghiệt ngã. Một tối, về thăm nhà, chứng kiến mẹ kế hành hạ con chồng, bố ông mặc xà lỏn, cùng con uống nước mắm chống giá lạnh bơi qua sông Đuống lên rừng, vào vùng tự do. Ông được cho sang Trung Quốc học thiếu sinh quân. Lần thứ 2 ông được gặp là khi bố chia tay để đi B (khoảng 1963-1964). Rất tiếc ông Cụ mất năm 1974, trước khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Ngô Xuân Tự được đào tạo thành lính đặc công, rồi hoạt động biệt động công khai trong đô thành (với vai người tu hành tại chùa Vĩnh Nghiêm, Sài Gòn). Ông tham gia nhiều trận đánh lịch sử với những chiến công hào hùng chống giặc Mỹ. Điển hình là trận Núi Thành (Quảng Nam), thí điểm trực diện đánh lính Mỹ vào đêm ngày 26/05/1965. Một đại đội bộ đội đặc công của ta trong vòng 30 phút đã tiêu diệt gọn Đại đội 2, Sư đoàn 3, Thủy quân Lục chiến Mỹ gồm 180 tên, là người trực tiếp tham gia trận đánh lịch sử này, Ông và đồng đội đã trả lời câu hỏi: “Có đánh Mỹ được không? và đánh như thế nào?”.

Ông Tự từ nhỏ vốn rất thạo bắn súng cao su; Khi còn đi ở cho địa chủ Ông hay dùng súng cao su; Khi  nhằm bắn đầu gà của nhà địa chủ. Do vậy, khi có thời gian rỗi Ông nằm nghĩ thử dùng súng cao su bắn tạc đạn M79 vì đầu đạn này chỉ bằng quả trứng gà nhỏ, thay vì dùng súng phóng đạn thì lấy đầu đạn và bắn bằng súng cao su. Sau khi bắn thử, Ông và hai đồng đội kiểm tra độ sát thương thì thấy rất hiệu quả. Thông thường mỗi lính Mỹ, ngụy thường mang 25 - 30 quả tạc đạn M79. Nguồn cung cấp rất sẵn ngay trong đô thành; Thực hiện “lấy của địch đánh địch”, trang bị lại gọn nhẹ giúp cho biệt động Sài Gòn hoạt động linh hoạt, hiệu quả cao và an toàn. Cách đánh này rất nổi tiếng tại Sài Gòn những năm 60, biệt danh Tự “cao su” xuất hiện từ đó, làm cho Mỹ - Ngụy Sài Gòn thất điên bát đảo, luôn bị rối loạn.

Ông tham gia chiến dịch tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), trong đội biệt động hỗ trợ đánh khách sạn Caravelle (Sài Gòn). Trong trận này Ông bị thương gãy xương vai, do ngã từ tầng 4 xuống. Hiện trong KS Caravelle vẫn lưu danh ảnh và tên của Ông. Tiếp theo, Ông tham gia đánh trận An Hòa, sân bay Nước Mặn (Đà Nẵng) từ tháng 2 - 3/1969; tiêu diệt 3 tiểu đoàn pháo, 1 đại đội cối 105 ly, đánh thiệt hại Bộ chỉ huy trung đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ; phá hủy 40 máy bay, diệt 100 tên Mỹ. Trận này Ông lại bị thương nặng được dân cưu mang và cứu chữa trong lòng địch.

Năm 1970 Ông được cử đi học thám không tại Nga (Liên Xô cũ). Ông tham gia Tiểu đoàn 54, Trung đoàn 267 đánh máy bay Mỹ phá hoại Miền Bắc tại chiến trường Nghệ An - Hà Tĩnh. Đơn vị của Ông đã bắn rơi 84 máy bay, trong đó có chiếc thứ 3500 chiếc, và 03 chiếc B52. Trên người Ông đầy vết thương (ngoài gãy xương vai, còn 5 vết trên đầu, 2 vết rách cơ bắp chân, một viên đạn còn nằm trong xương sống...). Ông đã trưởng thành lên Tiểu đoàn trưởng, sau là Sư trưởng sư đoàn 2, Bộ đội chủ lực. Ông còn là lính đánh Cánh Đồng Chum (Lào); từ năm 1976 làm Tùy viên Quân sự tại Campuchia.

Năm 1992, do hoàn cảnh gia đình và nhiều vết thương, Ông giải ngũ về quê. Ông đã thu gom nhiều hố bom để nuôi cá ở Gia Lâm và Đông Anh; hỗ trợ nông dân trồng rau trên miệng hố bom, do vậy cái biệt danh “Tự - hố bom” nổi danh cả vùng. Do một mình nuôi 4 người con, nên Ông đã nương nhờ cửa Phật để toàn tâm lo cho con cái và hướng về điều thiện. Ông đã tham gia tìm và quy tập được chính quy trên 2000 hài cốt đồng đội. Hơn nữa, Ông dùng tiền tích lũy được từ đất hố bom, cùng nhân dân địa phương đã tôn tạo xây lại được chùa Linh Sản, thôn Phú Liễn, xã Bắc Hồng, Đông Anh, Hà Nội vào những năm giữa 1990; hiện nay đang tiếp tục được tôn tạo xây mới lại với vốn dự kiến khoảng 4 tỷ đồng; Ông còn công đức cho tôn tạo nhiều chùa khác. Hơn nữa, Ông luôn dành tiền tích lũy và quyên góp được để giúp đỡ đồng đội khó khăn, dân các vùng bị hoạn nạn... Ông sẵn sàng giúp đỡ những hoàn cảnh éo le, cơ nhỡ, khó khăn nên nhiều cháu đã trở thành con nuôi của Bố Tự. Ông xứng đáng với danh hiệu “Tự - tâm Phật” mà nhiều người thân mật và cảm phục vinh danh Ông.

 
Câu chuyện 2: Người lính chế độ Sài Gòn: Võ Đình Tọa - tâm Phật đã cứu hàng vạn Phật tử và SVHS tranh đấu

Như nhiều thanh niên khác cùng thời, khi 18 tuổi Vũ Đình Tọa, xuất thân từ nông thôn (Quảng Trị) bị ép đi quân dịch. Đại đức kể: Do lanh lợi và thông minh nên được cử đi học lớp thông tin. Năm 1962 ra trường với 5 bằng dịch thuật (dịch mật mã), được điều về Tiểu đoàn 2, Sư đoàn 1 Bộ binh đóng tại Tứ Hạ (Thừa Thiên – Huế). Ông được Chỉ huy (là người thân cận của gia đình Ngô Đình Diệm) nên được chọn làm lính dịch mật lệnh của Phủ Tổng thống vì ngoài giỏi chuyên môn lại không theo tôn giáo nào. Ông rất thắc mắc sao các bức mật lệnh luôn nhắc đi nhắc lại “khống chế, đàn áp Phật giáo” và cảm thấy mình có lỗi nếu Phật tử bị giết hại. Ông luôn bị mật vụ giám sát, nên Ông luôn tự cầu nguyện ông bà tổ tiên hãy cho gặp người tin được để báo tin cho Phật tử lãnh nạn. Nhờ linh ứng, Ông gặp và làm quen được thượng sỹ Nguyễn Văn Tích theo Phật giáo.
 
Đại Đức Thích Minh Thông (thế danh Võ Đình Tọa lính Sài Gòn) góp công vô hiệu hóa kế hoạch đàn áp Phật giáo của chính quyền Sài Gòn,
cứu hàng vạn Phật tử và sinh viên.

 
Năm 1963 là đỉnh điểm chính quyền Diệm thẳng tay đàn áp Phật giáo, điển hình là sự kiện Hòa thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu giữa Trung tâm Sài Gòn (11/06/1963), làm rung động thế giới. Trước đó ít ngày, Võ Đình Tọa dịch mấy mật lệnh: Chính quyền Ngô Đình Diệm lệnh cho quân Ngụy đàn áp phật giáo tại các chùa Linh Quang, Bến Ngự, Từ Đàm, Báo Quốc; mỗi chùa gánh hai quả lựu đạn M26 có sức công phá rất lớn; sau khi lưu đạn nổ lính bộ binh sẽ vào đàn áp vì đổ tội cho “Việt Cộng” giết hại phật tử... Ông lẩm bẩm đọc “Nam mô Đại bi quan thế âm bồ tát” (lời Thượng sỹ Tích bày đọc để niệm Phật). Đọc xong lần thứ 2 thì thấy cháu 12-14 tuổi hiện ra trước mặt bày cho cách thoát nạn. May nhờ qua thượng sỹ Tích kịp thời cho vợ báo tin nội dung mật lệnh nên các chùa đã thay đổi kế hoạch và hàng nghìn Phật tử thoát nạn...

Tháng 6/1966 một lần nữa Võ Đình Tọa lại cứu được hàng vạn Phật tử, sinh viên thoát khỏi sự tàn sát của chính quyền Thiệu - Kỳ. Lúc này trung tá Phan Văn Khoa làm Tỉnh trưởng Thừa Thiên - Huế tuyển lựa Ông về lính dịch mật mã, đóng quân tại cửa Thượng Tứ (một cổng vào Đại Nội Huế). Ông đã làm quen với sư thầy Thích Thiện Tấn, ở chùa Phú Lâu (hiện làm Trưởng ban trị sự Hội Phật giáo Quảng Trị). Từ ngày 10/6 - 13/6/1966, Ông nhận được 6 mật lệnh, Chính quyền Thiệu - Kỳ ra lệnh cho quân đội tàn sát Phật tử và sinh viên, học sinh Huế và Quảng Trị.

14:00, ngày 13/6/1966 Ông lạnh toát xương sống khi cầm “Mật lệnh tối khẩn số 153” yêu cầu Tỉnh trưởng lập tức điều quân tối đó (21g30) đóng giả là Phật tử vào phá các bàn thờ Phật tại Huế lúc thành phố tắt đèn làm hiệu lệnh, sau đó nửa đêm tấn công ra Quảng Trị, có máy bay và xe tăng yểm trợ để phá tất cả bàn thờ Phật trên đường đi...

Bối rối không biết làm thế nào để báo tin được. Nhưng Ông quyết định liều thân cứu người. Đóng chặt cửa, Ông lẩm bẩm đọc “Phật Bồ tát, Phật Bồ tát hôm nay nó diệt phe mấy ông, mấy ông linh thiêng cho biết làm thế nào ra khỏi chỗ này được để báo cho chùa biết...”. Tự nhiên hai cháu 12-14 tuổi lại xuất hiện, đứng ngay trong phòng. Chúng nói “Cậu muốn xe, cháu tìm cho”. Tôi bảo “Làm gì có xe giờ này?”. Chúng bảo “Hai cháu tìm xe về kia kìa” và chỉ tay xuống dưới. Ông quay đầu nhìn qua cửa sổ xuống dưới sân thấy chiếc xe Jeep nhà binh của Đại đức Thích Chánh Trực (là Tuyên úy Sư đoàn 1 Bộ binh, thường xuyên ra vào Thành Nội qua Cửa Thượng Tứ - thời đó do Phật giáo đấu tranh mạnh nên Chính quyền Ngụy chấp nhận chức vụ Tuyên úy Phật giáo để truyền đạo trong quân đội). Mừng quá, tỉnh người không thấy chúng đâu nữa. Ông xếp nhanh gọn giấy tờ, đi xuống, lên xe ngồi vào ghế sau Tuyên úy. Tuyên úy Chánh Trực, biết Ông là lính dịch mật mã cho Trung tá Tỉnh trưởng, hỏi đánh lạc hướng tài xế (đều là mật vụ) “Nhà ở đâu?”; Ông trả lời “Cách cầu Bạch Thổ 100m, đường lên chùa Linh Mụ”.

Ông bấm nhẹ trên lưng quần thầy Chánh Trực khi trên xe và bấm mạnh dưới lưng quần khi xuống xe. Thầy Trực rất tài, hiểu và khi xuống xe chia tay hỏi (lúc tài xế không quan tâm) “Chiều nay chuẩn bị, tối nay tiêu diệt phải không?”. Ông nói lại “Thầy quá tài! Tôi dùng mật mã đặc biệt, thầy dùng trí tuệ biết được. Đúng vậy, 9g30 đêm tiêu diệt tất cả phật giáo Thừa Thiên - Huế; 1g30 sáng tiến ra Quảng Trị, có khu trục và xe tăng T41, M113 và 3 đại đội cảnh sát dã chiến (CSDC) do Thượng sỹ Dương Văn Thái chỉ huy thẳng tay trừng trị trên đường. Ai kháng cự bắt về giam tại trường Nguyễn Hoàng, Quảng Trị”. Thầy bảo tôi thuê xe đò lên chùa Phú Lâu gặp thầy Tâm Dũng.

Giao Mật điện cho chùa Phú Lâu xong, Thái Tăng Hùng (thầy Tâm Dũng) cho 3 đệ tử dò đường đưa Ông về Cửa Thượng Tứ. Thấy không ai theo dõi Ông lách vào Cửa Thượng Tứ. Chỉ huy trưởng Nguyễn Thanh Hoành vẫn đang ngáy khò khò. Đến giờ phải trình công điện, Ông quá run, không nhấc nổi chân, đành cọ giày đinh lên nền nhà. Nghe tiếng động, Đại úy Hoành vùng dậy, Ông thưa “CHT có điện gấp tiêu diệt Phật giáo”. Chính lúc Đại úy Hoành đọc mật điện thì loa phóng thanh trước Cửa Thượng Tứ cũng oang oang thông báo nội dung Công điện...

“Công lệnh bị lộ” – tin báo ngay về Phủ Tổng thống. Tối đó lực lượng Cảnh sát Dã chiến (CSDC) không làm gì được. Tỉnh Trưởng Phan Văn Khoa báo cho Đại úy Hoành “Cấp trên và Đại tá Loan (Chỉ huy chiến dịch) không tin miền Trung. Lính miền Trung đều là Phật tử... không sử dụng được. Tiểu đoàn của Đại úy phải lên án ngữ phía Nam chùa Linh Mụ (Thiên Mụ)”. Nghe vậy Ông rất mừng vì không bị lộ. Ông lẻn ra ngoài đi thẳng lên chùa Phú Lâu báo cho thầy Tâm Dũng biết để ứng phó.   

Lúc quay về đến cửa Thượng Tứ thì bị người bạn là Nguyễn Thìn lôi lại “Có ba người lạ mặt mặc quần áo dân thường đến bắt người”. Ông tức tốc xuống bờ sông Hương gọi đò lên chùa Linh Mụ cùng thầy Tâm Dũng trốn ở đó (lúc đó là 3g00 ngày 14/6/1966). Ba ngày sau chùa Linh Mụ bị bao vây. Ông muốn trốn vào Sài Gòn, tránh họa cho Phật tử trong chùa. Nhà chùa đã cho 100 phật tử đi dò đường, nhưng không thể vì đã treo hình truy nã khắp nơi. Tội lộ tin tối mật có thể bị tử hình.

Lúc đó, nghe tin CSDC tập trung đánh Phật giáo, bao vây chùa Linh Mụ, nhiều lính tráng phản đối. Được đoàn 100 phật tử dẫn đường ra cây số 17, lúc đó vào 6g30 sáng (14/6/1966), Ông thấy quân lính tập trung rất đông ở sân vận động (cỡ 1 trung đoàn). Ông nhờ Anh Thái (Phật tử - thợ may) xem có ai là người quen không? Như thượng sỹ Tích, trung sỹ Thiết, trung sỹ Tư, nếu có mời vào uống nước. Lát sau cả 3 người có mặt, Ông nói:" Ông được Trung tá cho nghỉ vài hôm vì Huế chưa có gì". Mấy người rủ tham gia đi đánh quân Thiệu - Kỳ, Ông đồng ý tham gia đánh vào Huế, bảo vệ gia đình binh sỹ và Phật tử.

14:00 ngày 15/6/1966 đoàn quân kéo vào Huế, bị khu trục và lực lượng Thủy quân chặn đường ở cầu An Hòa. Hai bên đánh nhau một trận, không bên nào tiến lên được. 21g00 đoàn quân vì phật tử rút vào giữa lòng dân, thay đổi chiến thuật, lập đội cảm tử quân gồm 60 thiện xạ, do trung úy Nguyễn Văn Tiến chỉ huy, trang bị mỗi người 10 lựu đạn M26, 3 người một khẩu phóng lựu M79, chia làm 3 mũi tiến vào Thành Nội. Hai lính quân báo đã áp sát và quật ngã lính gác; 3 đại đội CSDC vẫn còn ngủ, bị 60 cảm tử quân dùng M79 và lựu đạn M26 bắn liên tục 10 phút. Sau đó mọi người tự giải tán và trốn đi. Ông trốn vào chùa Long Quan, An Lộ (do Hòa thượng Thích Như Đạt chủ trì). Ba ngày sau, tên Lê Ngân (người Triệu Phong, làm việc cùng đơn vị với Ông khoảng 2 năm) gặp Ông khóc thương cảm, khuyên nên trốn vào Sài Gòn, hứa làm giúp Sự vụ lệnh (SVL) mới vào Nam được. Đúng hẹn 12g trưa, tên Ngân dẫn đến lấy SVL thì Ông bị bắt vì Ngân chính là mật vụ ngầm.
       
Ông bị đưa vào nhà lao Thừa Phủ Huế, bị đánh rất dã man, nhưng một mực chỉ nhận là theo lính Phật giáo đánh lại quân Thiệu - Kỳ bảo vệ Phật tử, rồi bị đưa vào Cục An ninh QĐSG. Ở đây, Ông bị tra tấn kinh khủng nhất, may còn sống vì mỗi ngày vài người chết. Ngày 23/6/1966 Ông bị đưa ra đảo Phú Quốc, bị giam tù 18 tháng, lúc đầu bị đày trên sình lầy, bốn ngày ăn một ổ bánh mỳ ngâm nước biển... Tháng 10/1967 được đưa vào đất liền, tiếp tục chịu cực hình tại trại Bình Hòa. Ngày 12/12/1967 được xuất trại về trình diện Bộ TTM quân Sài Gòn và bị đày lên Ban Mê Thuật, rồi Đập Đát, cuối cùng 1969 được phóng thích về quê. Như vậy, với “chiêu” trốn tội lớn (lộ mật lệnh), nhận tội nhỏ (theo lính Phật giáo hành quân chống lại chính quyền) - luôn miệng niệm Phật và khắc cốt ghi xương một lòng theo đạo Phật; Ông bị bắt giam 3 năm.

 
Đại đức Thích Minh Thông thỉnh “Văn tế các anh linh Liệt sỹ” tại Nghĩa trang Đường 9.
 
Ra tù, không có tiền nên Ông vào chùa xin ăn, rồi vừa nhận trông coi trại chuối vừa làm thơ, viết truyện ngắn gửi đăng lấy tiền nuôi thân, như bài “Chiều mưa nhớ mẹ trên Côn Đảo”, “Khói trên nấm mồ mẹ”, “Cụ già kiếm ăn bên vỉ hè Plâycu”... Từ khi mẹ chết Ông về kiếm ăn nuôi cha và ăn chay, sau lập gia đình và đi tu. Ông xuất gia nhập tịnh 1988 tại tu viện Vạn Hạnh (Vũng Tàu), với Pháp danh là Thích Minh Thông, nay chủ trì ngôi chùa Thụy Ứng tại thôn Thi Ông, xã Hải Vĩnh, Hải Lăng, Quảng Trị; Chùa do Ông phát tâm cùng phật tử dựng nên. Ông thường xuyên giao tiếp với các anh linh liệt sỹ tại Nghĩa trang Trường Sơn và nghĩa trang Đường 9... như là kiếp duyên đã định. Nhiều liệt sỹ thông qua Ông đã báo cho thân nhân tìm đến. Từ Ông những áng văn tế thống thiết tự nhiên tuôn trào, thay mặt đồng bào gửi đến anh linh liệt sỹ đã hy sinh cho Tổ quốc vĩ đại. Chính vì vậy, Thượng tọa Thích Minh Thông được thay mặt Đoàn CCB đọc bài văn tế tại nghĩa trang Đường 9. (Chi tiết hơn về Ông đã được đăng tải trên Báo Pháp luật & Thời đại số 67, 68 tháng 12/2012).
 
Câu chuyện 3: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn.

          May mắn tôi được tham gia chuyến đi đầy tâm linh cùng các CCB, quý Tăng ni và Phật tử cùng các doanh nhân, doanh nghiệp tâm huyết từ thiện giúp các gia đình liệt sỹ, thương binh và đồng bào nạn nhân bị thiệt hại nặng nề do bão lụt gây ra. Đoàn xe được Lãnh đạo và cán bộ Tập đoàn Truyền thông Quốc gia bố trí rất chu đáo, chương trình sát sao...

 

Đội xe đưa Đoàn đi trong hành trình.
 
Ngày đầu chạy một mạch từ 9:00 tối 5/12 đến 5:30 sáng đến Ngã Ba Đồng Lộc; Khi cách Đài tưởng niệm 5-7km, Sư thầy Thích Diệu Hương cho biết đã cảm nhận được năng lượng đoàn anh linh liệt sỹ nữ TNXP hàng ngũ chỉnh tề hoan hỉ nghênh đón, tiếp theo là đoàn anh linh liệt sỹ bộ đội rầm rập hồ hởi đón đoàn. Đoàn đến sớm hơn dự kiến 30 phút, bị mưa to, nhưng khi dừng xe, tập hợp niệm “Nam mô A di đà Phật” thì tạnh mưa cho đến khi dâng hương xong tại đài Tưởng niệm thì lại mưa tiếp. Tại tất cả các nghĩa trang Đoàn đều được các anh linh liệt sỹ phấn khởi đón nhận, thể hiện thai đài tưởng niệm Nghĩa trang Trường Sơn, chân hương bị ướt do trời mưa cả đêm, nhưng khi Đoàn dâng hoa, thắp hương thì bát hương “Hóa” bốc cháy rực rỡ; và khi cầu siêu, thả đèn hoa đăng trên sông Thạch Hãn đều có những hiện tượng tâm linh ấn tượng...


Sáng tinh mơ Đoàn cùng niệm “Nam mô A Di Đà Phật” trước Đài tưởng niệm Liệt sỹ TNXP tại Ngã ba Đồng Lộc.


Lư hương bốc “hóa” - hàng ngàn vạn anh linh liệt sỹ hoan hỉ mừng Đoàn tri ân. 

          Tôi cảm nhận được tình đồng đội của các CCB gắn bó tự nhiên, ấm áp và tình nghĩa như vừa mới sát cánh chiến đấu hôm nao, mặc dù đến từ mọi miền Tổ quốc, như từ Bình Thuận, Nha Trang, Mộc Châu, Điện Biên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Hải Phòng, Hà Tây, Hà Nội... Các đức tăng ni phật tử chu đáo hết sức, khiêm nhường, chăm chút cho các anh linh liệt sỹ, cho thành viên trong đoàn với những câu nói và trình bày tận tâm, trôi chảy và khúc triết những triết lý “uống nước nhớ nguồn”... Tôi rất cảm phục các CCB là doanh nhân, các thượng tọa đã tự phát tâm giúp đỡ những CCB và học sinh gặp khó khăn. Việc làm tâm đức đó thật nhẹ nhàng, lặng lẽ, rất tự nhiên như việc làm lẽ thường...

Tại Thành Cổ Quảng Trị tất cả đoàn đều lặng người nghe như nuốt từng lời giới thiệu. Thành Quảng Trị không có nghĩa trang vì đó là nấm mồ chung cho hàng vạn chiến sỹ cũng như lính của chế độ Sài Gòn đã ngã xuống trong suốt 81 ngày đêm giằng co tiến lùi. Mỗi một vốc đất ở đây đều nhuốm máu và lẫn xương cốt của các chiến sỹ cách mạng đã anh dũng chiến đấu vì Tự do và Độc lập của Tổ quốc. Theo số liệu thống kê thì 26.000 lính chế độ Sài Gòn ngã gục, còn quân Giải phóng cũng đã hy sinh 15.000 người, nhưng nếu tính cả dân công hỏa tuyến và nhân dân thì có lẽ là 30.000 người. Dòng sông Thạch Hãn có lúc bị xác người đông đặc, trương ken thành “phà” cho quân dân vác súng đạn, thực phẩm chạy qua tiếp tế cho Thành Quảng Trị... Ai cũng tâm niệm phải quay lại Thành Quảng Trị làn nữa, nhiều lần nữa, nhất là những CCB đã tham chiến ở Quảng Trị năm 1972; Có lẽ các thế hệ mai sau nên tổ chức chuyến đi ôn lại lịch sử hào hùng của các anh linh liệt sỹ đã nằm lại mãi mãi ở Thành Quảng Trị...

 
Hình ảnh tàn khốc trên đất Thành cổ Quảng Trị


Chứng tích chiến tranh hủy diệt tàn khốc của bom đạn tại Quảng Trị



Lễ Cầu siêu và dâng cúng hoa đăng trên sông Thạch Hãn đêm 07/12/2013
 
     Điểm nổi bật nhất về tình đồng đội của CCB là tại trường Tiểu học Thanh Trạch 2. Khi được tôi giới thiệu có CCB Lưu Đức Thuận phục viên về 1983, lấy vợ sinh được 6 người con. Nhưng, tất cả vợ và con đều bị suy thận nặng phải thường xuyên chạy thận nhân tạo, do dưới cạnh đáy giếng có một quả bom hóa học, lâu ngày bị rỉ hóa chất độc. Bao nhiêu tiền của, tài sản Ông Thuận đều bán hết để chữa cho vợ con; Năm 2005 bán đến cả nhà đất được 35 triệu. Đến nay, ba con đầu đã bị chết, đứa con thứ tư đang thấp thỏm vì bệnh viện không thể chữa được nữa. May hai con út do được chữa kịp thời nên bị nhẹ hơn và liên tục là học sinh giỏi, học trường chuyên của tỉnh. Đại tá Ngô Xuân Tự phát tâm cá nhân hỗ trợ 5 triệu đồng góp phần giúp chuộc lại nhà cho gia đình đồng đội có nơi để ở. Ngay tại Lễ trao tặng từ thiện ở Trường, lần lượt Thượng tọa Thích Chiếu Tạng tặng 10 triệu, Đại tá Nguyễn Minh Phương thay mặt Đoàn tặng 5 triệu, Quỹ BTTE Quảng Bình tặng 5 triệu, rồi lần lượt sư thầy Thích Đàm Loan, Thiếu tá Nguyễn Thị Mai... tài trợ trực tiếp cho vợ Ông Thuận (do Ông không đến được); Tổng kết số tiền nhận được là 35,5 triệu đồng; chính quyền hứa sẽ hỗ trợ để gia đình Ông Thuận thương thảo với chủ mới nhà đất để có thể chuộc lại nhà đất đã bán trước đây.
 

Đại tá Ngô Xuân Tự tiên phong phát tâm từ thiện ủng hộ hổ trợ cho gia đình CCB Lưu Đức Thuận, Quảng Bình.
 
 
Tại bất cứ điểm trao quà cho các giá đình Liệt sỹ và chính sách, Lão tướng CCB Đoàn Văn Đạt 78 tuổi (chiến sỹ Quảng Trị, trận Tết Mậu Thân 1968) cũng đều phát quà là bánh đậu xanh Nguyên Hương, do Ông làm chủ hiệu. Tuy ban đầu chỉ học đến lớp 7, nhưng do ham học hỏi, cầu thị, tìm cái hay, chắt lọc cái tốt của người đời làm vốn riêng cho mình và nhờ có thêm năng khiếu theo “gen” nho học của gia tiên nên Ông đã làm thơ, viết và xuất bản cuốn sách “Chí bền tay trắng làm nên” dày 310 trang tràn ngập những bài học và lẽ đời ai đọc cũng muốn đọc lại và học được nhiều điều quí giá... Tinh hoa lớn nhất sau khi giải ngũ Ông đã học được và làm ra bánh đậu xanh truyền thống của Hải Dương với nhãn hiệu “Nguyên Hương”. Ông đã thành công trong ngành làm bánh “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” và lấy tiêu chí khách hàng là thượng đế, nên sản phẩm bánh đậu xanh “Nguyên Hương” đã nổi tiếng khắp trong nước và xuất khẩu sang nhiều thị trường, như Pháp, Châu Âu. Ông và gia đình luôn có lòng từ bi, giúp đỡ nhiều người khốn khó. Gia đình Ông đã lập được Khu Dưỡng Thiện Nguyên Hương để chăm sóc người già cô đơn, thành lập “Quỹ Thiện Nguyện Tâm Phát” để vận động nhiều người cùng “Nguyên Hương” giúp đỡ người bị ung thư... Ông là tấm gương sáng, thiện tâm như các vị Bồ Tát, được cả Đoàn ngưỡng mộ và mọi người noi theo.
 

CCB Đoàn Văn Đạt, Chủ hiệu bánh đậu xanh Nguyên Hương, tác giả quyển sách “Chí bền tay trắng làm nên”, Chủ nhà Dưỡng Thiện Nguyên Hương”.
 
Kết thúc hành trình, chia tay Đoàn, lòng tôi ấm áp, ấn tượng và nỗi nhớ khôn nguôi… Mong các đồng tộc Họ Lưu - Việt Nam chúng ta, nhất là các CCB, các cá nhân thành đạt hãy cố gắng làm một việc từ thiện phù hợp gì đó, để tri ân những người đã hy sinh vì Tổ quốc và dân tộc, trong đó có các đồng tộc Họ Lưu của chúng ta.
          
TS. Lưu Văn Thành


Gửi ý kiến của bạn
(Xin hãy viết chữ có dấu! Xin cảm ơn!)