Ξ|Ξ   GIỚI THIỆU ::. TÁC PHẨM & TÁC GIẢ LƯU TỘC VN.
Đăng ngày 12/11/2012
E-mail     Bản in

TS.LƯU VĂN AN : Chúng tôi say mê làm việc trên “mảnh đất mới vỡ hoang”
PV AJC đã có cuộc trò chuyện với TS.Lưu Văn An – Trưởng Khoa Chính trị học, Giải Nhì cá nhân về chất lượng các công trình khoa học giai đoạn 2005-2009 cho cuốn sách “Thể chế chính trị Việt Nam trước năm 1945 dưới góc nhìn hiện đại” (NXB Chính trị Quốc gia, 2008) do Giám đốc Học viện CT-HCQG HCM trao tặng. TS đã chia sẻ những suy nghĩ tâm huyết về công tác giảng dạy, nghiên cứu ở Học viện và bày tỏ niềm tự hào khi nhận giải thưởng quan trọng này.
Là một trong 17 cá nhân được nhận giải thưởng nghiên cứu khoa học do Học viện Chính trị - Hành Chính Quốc gia Hồ Chí Minh trao tặng – một giải thưởng tổ chức 5 năm một lần. Xin TS chia sẻ với bạn đọc về ý nghĩa của sự kiện này?
 
Đây là kết quả nghiên cứu của cá nhân, đồng thời cũng là của tập thể những đồng nghiệp, học viên, sinh viên của tôi. Tôi rất vui và tự hào khi nhận giải thưởng vì những kết quả nghiên cứu của mình đã được những người có chuyên môn và trách nhiệm công nhận và đánh giá cao. Tôi cảm thấy tự tin hơn và có trách nhiệm hơn trong công tác giảng dạy và nghiên cứu của mình.
 

TS Lưu Văn An tham gia làm cộng tác viên, thư ký trong 4 đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước và cấp Bộ trọng điểm; chủ nhiệm 2 đề tài cấp Bộ, 3 đề tài cơ sở và cộng tác viên với nhiều đề tài nghiên cứu cấp cơ sở trọng điểm và cơ sở khác. TS làm chủ biên, đồng chủ biên 4 cuốn sách và giáo trình đã xuất bản, viết nhiều chương giáo trình và đăng tải nhiều công trình khoa học, bài báo trên tạp chí chuyên ngành và hội thảo quốc tế.
 
Ngoài giải Nhì chất lượng cho cuốn “Thể chế chính trị Việt Nam trước năm 1945 dưới góc nhìn hiện đại”, số lượng các công trình nghiên cứu khoa học của TS. Lưu Văn An cũng được lọt vào chung kết với gần 350 điểm.

Theo TS, đâu là những lợi thế của bản thân TS nói riêng và các giảng viên HVBCTT nói chung trong hoạt động nghiên cứu khoa học?
 
Theo tôi, công tác giảng dạy có sự gắn kết chặt chẽ với khoa học - đó là một lợi thế lớn của người thầy, giảng viên khi nghiên cứu khoa học, do những kết quả nghiên cứu được áp dụng ngay vào trong thực tế, phục vụ ngay cho công tác đào tạo. Thứ hai, khi có những vấn đề mới nảy sinh sẽ lập tức được đưa ra thảo luận tập thể, thông qua đó nhiều vấn đề khoa học được gợi mở từ chính sinh viên. Lợi thế của người thầy là tận dụng cơ hội để học từ sinh viên, đặc biệt những sinh viên tại chức – bởi họ đến từ nhiều ngành nghề, môi trường khác nhau. Trong quá trình học, họ sẽ tư duy theo hướng người thầy gợi mở, họ sẽ đặt ra nhiều vấn đề mà bản thân giảng viên có thể không bao giờ biết được. Người thầy giỏi sẽ tập hợp những ý kiến ấy, hình thành tư duy mang tính khoa học, để phục vụ nghiên cứu khoa học và giảng dạy.
 
Tôi nhận thấy tiềm năng và tiềm lực nghiên cứu khoa học của Học viện là rất lớn. Theo báo cáo tổng kết của Ban QLKH, kết quả nghiên cứu những năm vừa rồi rất cao, năm sau cao hơn năm trước. Các sách tham khảo, giáo trình xuất bản ngày càng nhiều hơn. Tuy nhiên có một thực tế, đội ngũ giảng viên trường ta còn thiếu, công tác giảng dạy rất nặng nề nên công tác nghiên cứu còn nhiều hạn chế.


 TS.Lưu Văn An, Trưởng khoa Chính trị học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Chính trị học là một ngành mới. Phải chăng đó cũng là điều kiện thuận lợi trong nghiên cứu đối với TS cùng tập thể khoa Chính trị học?
 
Có thể nói Chính trị học là “mảnh đất mới vỡ hoang” ở Việt Nam. Ở đó, còn rất nhiều vấn đề đặt ra đòi hỏi phải nghiên cứu. Chúng tôi may mắn là có điều kiện khai thác nhiều kiến thức mới. Chính điều đó đem lại cho chúng tôi sự hấp dẫn và thôi thúc chúng tôi tìm kiếm, khám phá.
 
Hiện nay ở Việt Nam có 3 cơ sở đào tạo Chính trị học: Khoa Chính trị học HVBC&TT (thành lập năm 1994); Tổ bộ môn Chính trị học, thuộc khoa Triết học, ĐH KHXH&NV TP.HCM; Tổ bộ môn Khoa học Chính trị - ĐH KHXH&NV, ĐH Quốc gia HN. ĐH Quốc gia HN đã đào tạo Sau đại học ngành Chính trị học từ lâu nhưng mới bắt đầu đào tạo Cử nhân từ năm 2008. Khoa Chính trị học HVBC&TT là khoa đầu tiên đào tạo Cử nhân (năm 2003) và tự hào là đơn vị xây dựng chương trình khung chuơng trình đào tạo cử nhân Chính trị học cho Bộ Giáo dục – Đào tạo. Từ năm 2009, Khoa bắt đầu đào tạo Thạc sĩ Chính trị học. Đây là một nhiệm vụ rất nặng nề, do chương trình mới, đội ngũ giáo viên mỏng. Nhưng chúng tôi sẽ cố gắng vượt mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang này.
 
Xin TS cho biết hướng nghiên cứu sắp tới của Khoa?
 
Hiện nay, hệ thống giáo trình của Khoa Chính trị học đã đạt hơn một nửa so với yêu cầu. Một nửa còn lại sẽ được đẩy mạnh thực hiện trong thời gian tới. Chúng tôi đang chuẩn bị bản thảo để xuất bản hai cuốn sách “Chính trị với Quản lý xã hội” và “Chính trị học so sánh”. Về cá nhân, trong thời gian tới tôi sẽ cố gắng xuất bản cuốn sách “Vận động hành lang ở các nước tư bản phát triển”. Đặc biệt trong thời gian hiện nay, tôi đang tập trung tham gia thực hiện đề tài nhà nước “Quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị ở Việt Nam” do GS.TS Dương Xuân Ngọc làm chủ nhiệm. Tôi và TS.Phạm Minh Sơn làm thư ký. Đây là đề tài phục vụ cho soạn thảo những văn kiện quan trọng của Đại hội Đảng XI sắp tới nên đòi hỏi rất cao. Chúng tôi đã đạt được những thành tựu nhất định khi thực hiện đề tài này và cố gắng thực hiện đúng thời hạn (đến 10/2010) với chất lượng cao.
 
Xin cảm ơn TS, Chúc TS cùng khoa Chính trị học luôn say mê nghiên cứu và tiếp tục đạt nhiều thành tích cao trong thời gian tới!
 

Tóm tắt nội dung cuốn sách “Thể chế chính trị Việt Nam trước năm 1945 dưới góc nhìn hiện đại” – TS.Lưu Văn An, NXB Chính trị Quốc gia, 2008.

1. Tính cấp thiết và nội dung chủ yếu của công trình

Thể chế chính trị là hệ thống các định chế, các giá trị, chuẩn mực hợp thành những nguyên tắc tổ chức và phương thức vận hành của một chế độ chính trị; là hình thức thể hiện các thành tố của hệ thống chính trị thuộc thượng tầng kiến trúc; là cơ sở chính trị- xã hội quy định tính chất, nội dung của chế độ xã hội nhằm bảo vệ quyền lực và lợi ích của giai cấp cầm quyền. Thể chế chính trị còn được hiểu là hệ thống các quy tắc điều chỉnh các quan hệ chính trị được sắp xếp theo một lôgic nhất định.

Thể chế chính trị là hệ thống những nguyên tắc và tổ chức để thực hiện có hiệu lực các quyết định của các chủ thể chính trị (chủ yếu của giai cấp cầm quyền). Trên thực tế, nhiều chủ trương và pháp luật đúng đắn nhưng không được hiện thực hoá, không được thực thi với hiệu quả cao. Vấn đề đặt ra là phải nâng cao sức mạnh của thể chế chính trị, phát huy vai trò của nó trong hiện thực hóa các mục tiêu chính trị. Bên cạnh công tác giáo dục ý thức chấp hành pháp luật, cần phải xây dựng một hệ thống thể chế bắt buộc mọi cá nhân, từ người được giao quyền lực đến công dân phải thực hiện.

Thể chế chính trị là hình thức triển khai hoạt động của một chế độ chính trị, phụ thuộc chủ yếu vào tính chất, nội dung và mục đích của chế độ chính trị đó. Mặt khác, nó cũng bị chi phối bởi tương quan lực lượng trong đời sống chính trị, bởi sự phát triển kinh tế- xã hội, vì vậy đòi hỏi thể chế chính trị phải đổi mới, phát triển cho phù hợp.
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, cải cách thể chế chính trị là một khâu then chốt. Để tiến hành cải cách thắng lợi, bên cạnh việc đẩy mạnh nghiên cứu những mô hình thể chế chính trị của các nước trên thế giới, chúng ta tiếp tục nghiên cứu thể chế chính trị trong lịch sử đất nước nhằm chắt lọc, lựa chọn để kế thừa và phát huy

những giá trị truyền thống tốt đẹp. Vì vậy, trên cơ sở nghiên cứu, chúng tôi mạnh dạn đưa ra những nhận xét, đánh giá ban đầu về đặc điểm, ưu điểm và hạn chế của thể chế chính trị từng thời kỳ, từng triều đại, làm cơ sở để rút ra bài học kinh nghiệm phục vụ cho cho công cuộc cải cách thể chế chính trị hiện nay.

Trải qua hơn hai nghìn năm từ thời Hùng Vương đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, lịch sử Việt Nam có nhiều biến động lớn, gắn với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, với những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, và cả những cuộc nội chiến tranh giành quyền lực kéo dài, qua đó khắc hoạ nên diện mạo đất nước, cốt cách dân tộc. Cùng với những bước phát triển, thăng trầm của lịch sử, thể chế chính trị biến đổi theo mức độ thịnh- suy của các triều đại phong kiến. Vì vậy, khi tìm hiểu thể chế chính trị, trước hết cần có cái nhìn tổng quan về tình hình kinh tế- xã hội, diễn biến chính trị trong từng thời kỳ, từng triều đại. Đó là những nhân tố khách quan tác động trực tiếp đến việc xác lập thể chế chính trị, đồng thời cũng là những nhân tố chủ quan, được hình thành dưới sự tác động của thể chế chính trị (các chính sách kinh tế- xã hội, văn hoá, chính sách dân tộc...).

Thể chế quân chủ chuyên chế phong kiến Việt Nam bao gồm hai bộ phận cấu thành: thể chế chính quyền nhà nước ở trung ương và thể chế chính quyền nhà nước ở địa phương. Chính quyền trung ương bao gồm vua và hoàng tộc, hệ thống các cơ quan triều đình và đội ngũ quan lại. Vua có quyền lực tuyệt đối, có vai trò quyết định trong thiết lập hệ thống bộ máy nhà nước. Các cơ quan nhà nước chưa có sự phân định rõ ràng trong thực hiện các chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng đã có sự phân biệt nhiệm vụ giữa chính quyền trung ương với chính quyền địa phương. Hệ tư tưởng là nhân tố quan trọng, nó chi phối, quy định việc thiết lập thể chế chính trị. Từ thời Lý, bên cạnh Phật giáo và Đạo giáo, Nho giáo thâm nhập nhanh chóng vào nước ta và quá trình hình thành bộ máy nhà nước quan liêu, chuyên chế chính là sản phẩm của hệ tư tưởng Nho giáo.

Đặc điểm chung của thể chế chính trị phong kiến Việt Nam là thể chế quân chủ chuyên chế, tuy mức độ đậm, nhạt có khác nhau, nhưng nhìn chung đều có xu hướng phát triển, ngày càng hoàn thiện. Đồng thời trong lịch sử, đã có những thời kỳ nước ta bị xâm lược (thời kỳ chống Bắc thuộc, thời kỳ chống giặc Minh, thời kỳ thực dân nửa phong kiến) và các thế lực ngoại bang đã thiết lập thể chế thống trị của chúng trên đất nước ta, bên cạnh thể chế chính trị của người Việt. Điều đó phản ánh tính chất phức tạp của thể chế chính trị Việt Nam.

Ngoài ra trên lãnh thổ nước ta đã từng tồn tại vương quốc Phù Nam, vương quốc Chămpa với những thể chế chính trị rất đặc trưng, nhưng do thiếu tư liệu, chúng tôi chưa có điều kiện đề cập trong đề tài này.

Về kết cấu, xuất phát từ nét đặc thù của lịch sử chính trị Việt Nam từ thời dựng nước đến năm 1945, tác giả chia thành 4 giai đoạn: 1) Từ thời dựng nước đến thế kỷ X, bao gồm thể chế chính trị thời Hùng Vương, thời kỳ chống Bắc thuộc, các triều đại Ngô- Đinh- Tiền Lê; 2) Từ thế kỷ X-XV, bao gồm thể chế chế chính trị các triều đại Lý, Trần Hồ, Lê Sơ; 3) Từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX, bao gồm thể chế chính trị triều Lê Trung Hưng- Mạc- Tây Sơn, Nguyễn; 4) Từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945- thời kỳ thực dân nửa phong kiến.

2. Những đóng góp (cái mới) của công trình

Đây là công trình đầu tiên hệ thống hóa, phân tích quá trình hình thành và phát triển thể chế chính trị Việt Nam từ thời kỳ Hùng Vương đến năm 1945- năm kết thúc thế chế chính trị phong kiến dưới góc nhìn Chính trị học, dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta. Những đặc điểm, ưu điểm, hạn chế của thể chế chính trị các triều đại được phân tích, đánh giá một cách khách quan, dựa trên cơ sở khoa học, và theo quan điểm mác xít. Cụ thể:       

- Thứ nhất, trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc gần hai nghìn năm, thể chế chính trị Việt Nam mang đặc trưng của thể chế quân chủ phong kiến tập quyền. Trải qua các triều đại, tính chất quân chủ ngày càng được tăng cường, đến thời Lê Sơ, Nguyễn được thể hiện rõ nét nhất. Vua có quyền lực tuyệt đối, nắm cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Các chiếu chỉ của vua có giá trị pháp lý tối cao, các bộ luật được biên soạn trên cơ sở ý chí của vua. Vua đứng đầu nhà nước, điều hành hoạt động của bộ máy hành pháp từ trung ương đến địa phương, có quyền bổ nhiệm, khen thưởng hoặc trừng phạt các quan lại. Vua cũng là quan toà tối cao, có quyền quyết định trong các vụ xét xử và là người duy nhất có quyền ân xá cho phạm nhân. Quyền lực của vua còn bao trùm lên cả tôn giáo: vua ban danh hiệu quốc sư, ban sắc phong cho các thần linh và là người chủ tế trong các lễ nghi tế trời. Ngoài ra, quyền lực của vua còn chi phối đến nhiều lĩnh vực cụ thể khác: ngôi vua là thiêng liêng và bất khả xâm phạm, lệ kỵ huý tên vua và hoàng tộc, những người có lời nói, hành động chống vua đều bị trừng phạt rất nặng. Do quyền lực của vua bao trùm bộ máy nhà nước nên sự hưng thịnh hay suy vong của quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào phẩm chất, năng lực của họ.

            Tuy nhiên, trong thể chế chính trị quân chủ cũng có nhiều quy định hạn chế quyền lực của vua. Trước hết đó là áp lực từ phía nhân dân; Thứ hai, thể chế quân chủ luôn bị hạn chế bởi thiết chế làng xã, nhiều khi “phép vua thua lệ làng”; Thứ ba, trong bộ máy quan liêu phong kiến và nguyên tắc vận hành của thể chế chính trị đã có nhiều cơ chế tuyển chọn nhân tài, phần nào làm hạn chế tính tuỳ tiện, chủ quan của nhà vua trong cất nhắc, đề bạt quan chức; Thứ tư, trong bộ máy nhà nước nhà vua đã đặt những chức gián quan để can ngăn nhà vua, buộc vua phải cân nhắc mỗi khi hành động hoặc phát ngôn.

            Tất cả các biện pháp trên đây, mặc dù hạn chế phần nào quyền lực của vua, nhưng không nằm ngoài ý muốn của vua, vì các biện pháp này đều xuất phát từ quyền lợi của vua. Vương quyền muốn vững bền thì phải dựa vào đội ngũ quan lại, phải huy động được trí tuệ của họ. Tập trung quyền lực nhưng luôn có sự kiểm tra, giám sát buộc vua phải tự điều chỉnh là đặc trưng quan trọng trong thể chế chính trị quân chủ phong kiến Việt Nam.

            - Thứ hai, trải qua các thời kỳ lịch sử, cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của nhà nước phong kiến ngày càng hoàn thiện. Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê tổ chức nhà nước còn đơn giản, chủ yếu dựa vào quân đội. Phương thức cai trị này chỉ phù hợp trong thời chiến, không thuận cho sự phát triển toàn diện đất nước. Đến triều Lý, thể chế chính trị được tổ chức chính quy và hoàn thiện hơn. Tổ chức nhà nước được mở rộng và chuyên môn hoá, nhiều chức quan mới được lập ra. Mặc dù còn đơn giản, nhưng những tổ chức giám sát quyền lực đã góp phần làm trong sạch đội ngũ quan lại, đảm bảo hoạt động lành mạnh của bộ máy nhà nước. Quan hệ giữa chính quyền với nhân dân được cải thiện. Triều đình không coi quân đội là chỗ dựa duy nhất nữa, mà dựa vào nền tảng kinh tế- xã hội của đất nước là làng xã. Nhà nước chăm lo đến đời sống nhân dân, thi hành nhiều chính sách thân dân như quan tâm đắp đê, chống lụt, khuyến nông, giúp dân khi thiên tai, bão lụt... nhờ đó, huy động được sức dân khi cần thiết. Quan hệ làng - nước hoà thuận, gắn bó, tạo sức mạnh quốc gia. Các nhà nghiên cứu gọi chính quyền thời kỳ này là chính quyền “tập quyền thân dân”.      

            Thời Lê Sơ là thời kỳ có nhiều thành tựu nhất của thể chế chính trị. Nét nổi bật là tất cả các cơ quan và các quan ngày càng chuyên nghiệp hoá, đều được xác định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ. Cơ chế giám sát quyền lực ngày càng được hoàn thiện. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, tăng thêm sức mạnh cho thể chế chính trị. Do quy định sở hữu tối cao về ruộng đất thuộc về nhà vua, quyền lực kinh tế của triều đình được củng cố. Trong một xã hội phát triển ổn định như vậy, nhà Lê cần một hệ tư tưởng duy lý hơn, vì thế Nho giáo, học thuyết cai trị “tôn quân quyền”, đề cao nghĩa vụ, đạo đức của đội ngũ quan lại, đề cao trật tự đẳng cấp và tôn ti, trật tự xã hội đã được nâng lên thành quốc giáo, thay cho Phật giáo duy tình. Các nhà sử học gọi hình thức tổ chức quyền lực này là “tập quyền quan liêu”. Đây là thời kỳ Đại Việt cường thịnh, lãnh thổ mở rộng, đời sống nhân dân sung túc, dự trữ quốc gia dồi dào. Từ mô hình phát triển này có thể rút ra nhiều bài học: nhà nước đã có cách xử lý tối ưu mối quan hệ giữa yêu cầu tập trung quyền lực với yêu cầu phát triển kinh tế. Nhà nước tập trung quyền lực kinh tế, đồng thời vẫn để dành cho tư nhân những mảnh đất rộng rãi để phát triển. Luật pháp nghiêm minh và tính chất tiến bộ của những bộ luật đó đã làm giảm thiểu đáng kể sự lộng hành của các quan cai trị, sự bóc lột quá đáng của địa chủ, nạn cường hào ở các làng xã. Tuy nhiên, hình thức tập quyền này cũng có giới hạn và tính lịch sử. Nó đòi hỏi sự trong sạch và tính chuyên nghiệp của đội ngũ quan lại, sự lành mạnh của cơ quan hành pháp. Điều đó phụ thuộc vào tài năng, đức độ và sáng suốt của nhà vua. Lê Thánh Tông là người có đầy đủ những phẩm chất ấy. Nhưng khi ông qua đời, mô hình cai trị của ông không được phát huy, thậm chí bộc lộ nhiều bất cập: bộ máy cồng kềnh, quan liêu nặng nề, luật pháp không được tuân thủ nghiêm túc, quá trình tư hữu hoá phát triển mạnh.

            - Thứ ba, trong thời kỳ Lê- Mạc, Đàng Trong- Đàng Ngoài, cuộc tranh giành quyền lực của các tập đoàn phong kiến gây nên chiến tranh liên miên, xã hội hỗn loạn. Đây cũng là thời kỳ đặc biệt xét về phương diện thể chế chính trị. Mô hình “lưỡng đầu chế” thực chất là hai chính quyền song song tồn tại, bên cạnh cung vua - chính quyền dân sự có phủ chúa- chính quyền quân sự. Cần lưu ý rằng, trong suốt thời kỳ khá dài này, vua Lê chưa khi nào chịu chia sẻ hoặc từ bỏ quyền lực cho các thế lực khác, mà vẫn luôn đại diện cho khuynh hướng tập quyền. Tính “chính danh” của nhà Lê vẫn được đề cao, cho nên dù chúa Trịnh có mạnh đến mấy vẫn không dám lật đổ nhà Lê, chúa Nguyễn thời kỳ đầu vẫn giương cao ngọn cờ “phù Lê”. Tuy nhiên, các vua Lê Trung Hưng chỉ khôi phục lại được quyền lực chính trị trung ương, mà không phục hồi được quyền lực kinh tế, vì vậy không kiểm soát được đất nước, không có cơ sở ở các địa phương. Về danh nghĩa, quốc gia vẫn thống nhất về chính trị vì chỉ có một triều đình, nhưng trên thực tế mọi quyết định công việc đất nước đều thuộc về phủ chúa. Tình trạng “vua danh nghĩa, chúa thực quyền” kéo dài do hai bên đều chưa hội đủ điều kiện để xoá bỏ lẫn nhau. Sự chia sẻ quyền lực đó không làm thay đổi tính chất của chế độ quân chủ. Thực chất đó là sự tiếm quyền của người có thế lực quân sự, giành những quyền lực vốn của nhà vua về tay mình mà thôi.

            Thực trạng Trịnh - Nguyễn phân tranh dẫn đến lãnh thổ đất nước chia thành Đàng Trong - Đàng Ngoài. Bên cạnh những yếu tố tiêu cực như chiến tranh liên miên làm thiệt hại nhiều về người và của, kìm hãm sự phát triển kinh tế- xã hội, cũng có những yếu tố tích cực. Khác với chính sách hoài cổ, bảo thủ của chính quyền Lê- Trịnh, nhà Nguyễn khuyến khích phát triển sở hữu tư nhân, tạo động lực mạnh mẽ cho các tầng lớp nhân dân, các dân tộc tích cực khai phá đất hoang, mở rộng lãnh thổ xuống phía nam. Để quản lý vùng lãnh thổ rộng lớn với thành phần dân cư phức tạp, nhà Nguyễn đã thiết lập chính quyền quân sự tập trung cao độ. Tuy có chủ quyền riêng với chính sách cai trị khác nhau, nhưng cả hai chính quyền vẫn có ý đồ tấn công tiêu diệt nhau, hướng tới sáp nhập quyền lực, thống nhất đất nước. Và đó cũng là ý nguyện của nhân dân ở cả hai miền Nam - Bắc. Chính phong trào Tây Sơn đã đáp ứng được nhu cầu thống nhất đất nước lúc đó, vì vậy được đông đảo nhân dân ủng hộ. Triều Tây Sơn được thiết lập đã kết thúc thời kỳ đất nước phân chia, đồng thời khẳng định xu hướng thống nhất, quyền lực tập trung về một mối.

            - Thứ tư, ngay từ thời Lý, quyền tư pháp bắt đầu được coi trọng. Nhà Lý ban hành bộ Hình thư, nhà Trần ban hành bộ Quốc triều hình luật tạo căn cứ pháp lý trong xét xử tội phạm. Cơ quan tư pháp đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XIII, vua Trần đặt bộ Hình, thượng thư bộ Hình đầu tiên là Hàn Thuyên. Quyền xét xử cũng bắt đầu được giao cho các quan địa phương vào cuối đời Trần. Từ thế kỷ XVII, hệ thống tư pháp có những bước biến đổi quan trọng, biểu hiện rõ nhất là sự hoàn thiện của hệ thống tổ chức tư pháp và cách thức tố tụng. Sự phát triển của tổ chức tư pháp chứng tỏ pháp luật có vị trí cao trong đời sống xã hội. Tuy nhiên dù hoàn thiện đến đâu, các tổ chức đó cũng không thoát khỏi những điểm chung của chế độ quân chủ. Vua là nguồn gốc của pháp luật, người đứng đầu hành chính và là vị quan toà tối cao. Mặc dù việc xét xử được chuyên môn hoá, nhưng chưa bao giờ tách ra độc lập với hoạt động hành pháp. Và sự hoàn thiện về pháp luật chưa đủ để giữ gìn kỷ cương xã hội. Vấn đề là sự yếu kém bộc lộ trong việc thiếu nghiêm minh của bộ máy hành pháp và bộ máy tư pháp cộng với tính cố hữu của người Việt là trọng lệ hơn trọng luật. “Truyền thống” này luôn có sẵn tiềm năng trỗi dậy mỗi khi kỷ cương, phép nước không nghiêm.

            - Thứ năm, thể chế chính trị thực dân nửa phong kiến là mô hình đặc biệt trong lịch sử thể chế chính trị nước ta. Trước đây, thời kỳ chống Bắc thuộc, thời kỳ đô hộ của giặc Minh, trên đất nước ta đã tồn tại thể chế chính trị của ngoại bang nhằm áp bức, nô dịch dân tộc. Khi xâm lược nước ta, đế quốc Pháp đã thiết lập kiểu thể chế thực dân - phong kiến, nghĩa là không xoá bỏ thể chế chính trị phong kiến mà củng cố và cải biến nó phục vụ cho mục đích cai trị.

            Ở trung ương, toàn quyền Đông Dương có quyền lực tối cao trên lãnh thổ Đông Dương. Cấp kỳ, đứng đầu là thống đốc (ở Nam Kỳ), thống sứ (ở Bắc Kỳ) và khâm sứ (ở Trung Kỳ) là cấp trung gian có quyền lực khá rộng lớn. Pháp đặt ra các chức cố vấn đặc biệt của nhà vua để kiểm tra, giám sát triều đình, thành lập Hội đồng cơ mật, kiện toàn lại các bộ, trong đó mỗi bộ có một viên quan người Pháp chỉ đạo công việc chung, đặt chức kinh lược sứ Bắc Kỳ để tách Bắc Kỳ ra khỏi triều đình Huế... Mọi hoạt động của triều đình đều đặt dưới sự chỉ đạo, kiểm soát của chính quyền thực dân. Ở cấp tỉnh, chính quyền thực dân đã phân chia lại địa giới, lập 61 tỉnh, ngoài ra còn lập các đạo quan binh, các thành phố độc lập. Ở Nam Kỳ chỉ có hệ thống chính quyền thực dân, ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ có hai hệ thống chính quyền (thực dân và phong kiến) song song tồn tại nhưng đều đặt dưới quyền của viên công sứ Pháp. Từ năm 1919, các cấp phủ, huyện, đạo, châu đều là những cấp tương đương nhau. Cấp tổng vẫn được duy trì. Đặc biệt, chính quyền thực dân rất chú trọng cấp xã. Chúng tìm mọi cách can thiệp, thâm nhập vào công việc làng xã, thông qua việc nắm nhân vật chủ chốt của làng xã là lý trưởng.

            Nét mới trong thể chế chính trị Việt Nam thời kỳ này là xuất hiện các tổ chức dân cử: Hội đồng thuộc địa ở Nam Kỳ, Viện Dân biểu Bắc Kỳ, Viện Dân biểu Trung Kỳ, ở cấp tỉnh có Hội đồng hàng tỉnh. Đây là những thiết chế dân chủ do chính quyền thực dân đặt ra để lừa gạt dân bản xứ. Vai trò, quyền hạn của các thiết chế này rất hạn chế, do quy định về tiêu chuẩn cử tri, tiêu chuẩn ứng cử viên, quy chế bầu cử... Thực chất đó chỉ là công cụ cai trị của chính quyền thực dân.   

            - Thứ sáu, trong thể chế chính trị phong kiến Việt Nam, tính dân tộc và chức năng công quyền luôn luôn là yếu tố nổi trội, chi phối tính chất và hoạt động của các tổ chức, cơ quan trong thể chế chính trị. Do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, nhà nước ngay từ đầu đã biểu hiện chức năng bảo vệ quyền lợi dân tộc rõ nét hơn chức năng bảo vệ quyền lợi giai cấp. Trong thời kỳ chống Bắc thuộc, các chính quyền đô hộ là công cụ cai trị của giai cấp phong kiến phương Bắc, đồng thời còn là bộ máy nô dịch dân tộc, vì vậy mâu thuẫn dân tộc là mâu thuẫn chủ yếu. Trong thời kỳ độc lập, tự chủ, các triều đại phong kiến bên cạnh việc chăm lo đến quyền lợi giai cấp, đã rất chú trọng lợi ích của nhân dân, đại diện cho quyền lợi của dân tộc. Thực tế lịch sử cho thấy, thể chế chính trị chỉ có thể vững mạnh khi giai cấp cầm quyền nhập thân được vào dân tộc.

            Chức năng công quyền luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong thể chế chính trị. Một đặc điểm gần như có tính quy luật trong lịch sử Việt Nam là thể chế chính trị chỉ có thể vững mạnh khi nó thực hiện tốt những chức năng xã hội, nhà nước phải gắn với sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc và được nhân dân thừa nhận là người đại diện của họ. Các triều đại đều quan tâm đến những công việc chung: đắp đê, xây dựng hệ thống thuỷ lợi, bảo vệ an ninh trật tự và chủ quyền quốc gia. Triều đại Lý, Trần và Lê Sơ là những triều đại vững mạnh nhất, đã giành được thắng lợi trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm và xây dựng các công trình thủy lợi có quy mô lớn. Trái lại, triều Hồ và triều Nguyễn, mặc dù đã xây dựng được bộ máy nhà nước tương đối hoàn chỉnh, nhưng do quá chú trọng vào củng cố quyền lực thống trị, coi nhẹ chức năng xã hội nên không được nhân dân ủng hộ, dẫn đến đất nước khủng hoảng, suy yếu.

            - Thứ bảy, các tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến thể chế chính trị. Thời kỳ chống Bắc thuộc, Nho giáo là hệ tư tưởng của chính quyền đô hộ, thâm nhập vào Việt Nam theo gót chân của quân xâm lược, vì vậy bị nhân dân chống lại. Trong khi đó, Phật giáo được du nhập vào nước ta một cách tự nhiên từ đầu Công nguyên, được đông đảo nhân dân tiếp nhận. Tôn giáo này thực sự bước lên vũ đài chính trị và được coi là quốc giáo ở Việt Nam từ thế kỷ X. Phật giáo đã đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng và củng cố sự thống nhất quốc gia và là chỗ dựa tinh thần của các triều đại Lý - Trần. Phật giáo cũng nhận được sự nâng đỡ của nhà nước và vì vậy có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Trong thời kỳ đó, tư tưởng Phật giáo chi phối rất mạnh mẽ mọi hoạt động của nhà nước. Các sư tăng đồng thời là các chính khách. Vua và toàn thể hoàng tộc đều tự coi là những tín đồ nhiệt thành của đạo Phật. Theo các nhà sử học, Phật giáo có được vị trí cao trong đời sống chính trị thời Lý- Trần là do 3 nguyên nhân sau đây: 1) Những người cầm quyền nhìn thấy lợi thế tập hợp nhân dân của Phật giáo; 2) Những người cầm quyền muốn sử dụng công cụ tư tưởng khác Nho giáo với ý thức giải Hán hóa sau nhiều thế kỷ bị đồng hóa cưỡng bức; 3) Tính chất hòa đồng nhân ái của đạo Phật phù hợp với tư tưởng thống nhất quốc gia dựa trên nền tảng thống nhất trong nội bộ từng làng và sự liên kết giữa các làng xã của những người cầm quyền. Như vậy, xuất phát từ nhu cầu củng cố sự thống nhất quốc gia, nhà Lý đã sử dụng Phật giáo. Để phù hợp với hoàn cảnh đó, Phật giáo đã thích ứng cao độ với đặc điểm của dân tộc, phải hoà đồng với những tín ngưỡng và quan niệm truyền thống. Mặc dù từ thế kỷ XIV, Phật giáo giảm dần vai trò chính trị nhưng ảnh hưởng của nó trong dân chúng còn rất rộng rãi.

            Từ thế kỷ XV, Nho giáo đã trở thành quốc giáo, là hệ tư tưởng chính thống của các triều đại phong kiến. Cũng như Phật giáo, Nho giáo vào Việt Nam đã được “sàng lọc” cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể. Chính Nho giáo đã góp phần đào tạo đội ngũ quan chức nhà nước, củng cố chế độ phong kiến trung ương tập quyền. Bản thân vua Lê Thánh Tông, người đưa Nho giáo đến đỉnh cao cực thịnh ở Việt Nam lại có ý thức dân tộc rất sâu sắc. Thời Nguyễn, Nho giáo được đề cao đến mức cực đoan, đã bộc lộ nhiều hạn chế, thậm chí cản trở sự phát triển đất nước. Cả Phật giáo và Nho giáo đều được du nhập từ nước ngoài, nhưng đã tìm thấy sức sống ở những yếu tố nội sinh của Việt Nam, không còn giữ nguyên gốc ý nghĩa ban đầu của chúng nữa. Các tôn giáo cùng với tư tưởng chính trị của nó không bài xích nhau, mà cùng hoà đồng, chung sống trong môi trường xã hội Việt Nam. Trong lịch sử dân tộc ta, chính chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, tư tưởng nhân nghĩa và đoàn kết là những nhân tố tư tưởng quan trọng tạo nên sức mạnh của thể chế chính trị, chứ không phải là ý thức hệ hay tôn giáo.

(Tài liệu tóm tắt do Khoa Chính trị học cung cấp)


Theo Bích Ngọc (thực hiện)