Ξ|Ξ   VĂN HÓA ::. Xã hội.
Đăng ngày 11/10/2010
E-mail     Bản in

Hà Nội nghìn năm thăng trầm, lắng hồn núi sông
- Cuối cùng thì chuỗi ngày Đại lễ mừng 1000 năm Thăng Long- Hà Nội đã khép lại. Dư âm để lại trong lòng mỗi người rất nhiều. Để có thành tựu đáng tự hào ngày nay, 1000 năm qua mảnh đất Thăng Long- Hà Nội đã trải qua bao nhiêu thăng trầm.

Quá trình nghiên cứu về lịch sử của vùng đất "địa linh nhân kiệt", chúng tôi được biết rằng, để có một Hà Nội phát triển đúng tầm, người có đóng góp lớn để Hà Nội đi cả một chiều dài 1000 năm một cách hào hoa lại là một vị tướng già nhà Đinh.

7 lần đổi chủ

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, thành Đại La ban đầu do Trương Bá Nghi cho đắp từ năm Đại Lịch thứ 2 đời Đường Đại Tông (767), năm Trinh Nguyên thứ 7 đời Đường Đức Tông (791), Triệu Xương đắp thêm.

Đến năm Nguyên Hòa thứ 3 đời Đường Hiến Tông (808), Trương Chu lại sửa đắp lại, năm Trường Khánh thứ 4 đời Đường Mục Tông (824), Lý Nguyên Gia dời phủ trị tới bên sông Tô Lịch, đắp một cái thành nhỏ, gọi là La Thành, sau đó Cao Biền cho đắp lại to lớn hơn. Theo sử cũ thì La Thành do Cao Biền cho đắp có chu vi 1.982,5 trượng (khoảng 6,6 km); thành cao 2,6 trượng (khoảng 8,67 m), chân thành rộng 2,5 trượng (khoảng 8,33 m), bức tường nhỏ đắp trên tường thành lớn bốn mặt cao 5,5 thước (khoảng 1,83 m), với 55 lầu vọng địch, 6 thành đắp vòng ngoài cửa thành, 3 hào nước, 34 đường đi. Ông còn cho đắp đê vòng quanh ngoài thành dài 2.125,8 trượng (khoảng 7,09 km), đê cao 1,5 trượng (khoảng 5,00 m), chân đê rộng 2 trượng (khoảng 6,66 m) và làm hơn 400.000 gian nhà.

Theo truyền thuyết, do thành xây đi xây lại vẫn bị sụt ở vùng sông Tô Lịch, Cao Biền đã cho trấn yểm tại đây để làm cho đất vững và chặn dòng long mạch của vùng đất này.

 

Ảnh minh họa

Thành Thăng Long thời nhà Nguyễn và Pháp thuộc năm 1802-1945


Cũng theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 541, Lý Bí “dấy binh đuổi giặc (nhà Lương), xưng là Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên”. Theo sử sách ghi lại, thành Long Biên của Lý Nam Đế là tiền thân xưa nhất của thành Đại La. Thành này Lý Nam Đế đã dựng cung Vạn Thọ làm nơi triều hội và xây chùa Khai Quốc tồn tại đến ngày nay (nay là chùa Trấn Quốc). Mãi đến năm 602, Lý Phật Tử còn sai anh là Lý Đại Quyền giữ thành Long Biên, nghĩa là nó tồn tại suốt hơn 60 năm trước khi bị quân xâm lược phương bắc chiếm giữ.

Như vậy, tính đến thời điểm Lý Bí chọn thành Đại La làm nơi đóng đô, “sổ đỏ” của đất Hà Nội bây giờ đã qua 6 lần đổi chủ. Nếu tính đến thời điểm vua Lý Công Uẩn chọn Thăng Long là Kinh đô, thì thành Đại La đã có 7 chủ.

11 lần đổi tên

1 - Long Đỗ: Truyền thuyết kể rằng, lúc Cao Biền nhà Đường, năm 866, đang đắp thành Đại La, phát hiện thần nhân hiện lên tự xưng là thần Long Đỗ. Do vậy, sử sách thường gọi Thăng Long là đất Long Đỗ.

2 - Tống Bình: Tống Bình là tên đất trị sở của thế lực đô hộ phương Bắc thời Tùy (581-618), Đường (618-907). Trước đó, trị sở đô hộ phương Bắc đóng ở vùng Long Biên (tức Bắc Ninh ngày nay), đến đời Tùy, mới chuyển đến Tống Bình.

3 - Đại La: Theo kiến trúc xưa, kinh đô bao giờ cũng có "tam trùng thành quách": trong cùng là Tử cấm thành (bức thành màu đỏ tía) nơi vua và hoàng tộc ở, giữa là Kinh thành và ngoài cùng là Đại La thành.

 

Ảnh minh họa

Sau 7 lần đổi chủ, 11 lần thay tên, Hà Nội có diện mạo mới, hiện đại phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế như hiện nay.

4 - Thăng Long: Xuất phát từ việc vua Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La. Đây là tên gọi có tính văn chương nhất, gợi cảm nhất trong các tên về Hà Nội.

5 - Đông Đô: Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" chép: "Mùa hạ tháng 4 năm Đinh Sửu (1397) lấy Phó tướng Lê Hán Thương (tức Hồ Hán Thương) coi phủ đô hộ là Đông Đô".

6 - Đông Quan: Theo sử sách, năm 1408, quân Minh sau khi đánh bại cha con Hồ Quý Ly đã đóng đô ở thành Đông Đô, đổi tên thành Đông Quan.

7 - Đông Kinh: Thời Lê, vì Thanh Hóa có Tây Đô, cho nên gọi thành Thăng Long là Đông Kinh.

8 - Bắc Thành: Đời Tây Sơn (1787-1802) vì kinh đô đóng ở Phú Xuân (Huế), nên gọi Thăng Long là Bắc Thành.

9 - Thăng Long: Năm 1802, vua Gia Long quyết định đóng đô ở Phú Xuân (Huế), không ra Thăng Long. Tên Thăng Long đã có từ lâu đời, nên Gia Long thấy không tiện bỏ đi, vẫn giữ tên Thăng Long, nhưng đổi chữ Long là Rồng thành chữ Long là thịnh vượng, lấy cớ rằng rồng là tượng trưng cho nhà vua, nay vua không ở đây thì không được dùng chữ Long là rồng. Việc thay đổi nói trên xảy ra năm 1805.

10 - Hà Nội: "Năm 1831, vua Minh Mạng đem kinh thành Thăng Long cũ hợp với mấy phủ huyện xung quanh như huyện Từ Liêm, phủ Ứng Hòa, phủ Lý Nhân và phủ Thường Tín lập thành tỉnh Hà Nội, lấy khu vực kinh thành Thăng Long cũ làm tỉnh lỵ của Hà Nội".

11 - Hoàng Diệu: Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhiều bài báo đã sử dụng tên Hoàng Diệu để chỉ Hà Nội, tưởng nhớ đến tấm gương lẫm liệt của vị tổng trấn Hoàng Diệu.

Ngoài ra, còn nhiều từ được dùng trong dân gian để chỉ Thăng Long-Hà Nội như: Kẻ Chợ (Khéo tay hay nghề, đất lề Kẻ Chợ); Kinh Kỳ (Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì phố Hiến); Thượng Kinh (Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Chẳng lịch cũng thể con người Thượng Kinh)...

Dấu ấn độc lập tự chủ

Trong 7 lần Hà Nội đổi chủ, ấn tượng và có ảnh hưởng đến lịch sử phát triển của thủ đô nhất là thời điểm Lý Công Uẩn nhận "bàn giao" kinh thành Thăng Long từ tay Lưu Cơ, Thái sư đô hộ phủ, một công thần của nhà Đinh, người được giao cai quản toàn bộ Giao Châu, đóng đại bản doanh ở Phủ đô hộ cũ, tức thành Đại La. Thời điểm trao thành Đại La lại cho nhà Lý, Lưu Cơ đã gần 70 tuổi, đó cũng là lúc ông cáo quan về hưu.


Theo dã sử và lịch sử còn ghi chép lại, Lưu Cơ là người đã cai quản và tu sửa thành Đại La cho đến lúc nhà Lý ra tiếp quản tòa thành này trong quãng thời gian hơn 40 năm. Trước đó, thành Đại La là dinh thự hành chính của các triều đại phong kiến phương Bắc sang đô hộ nước ta. Tòa thành này mang đậm kiến trúc và phong thủy lệ thuộc phong kiến phương Bắc. Khi Lý Công Uẩn tiếp nhận thành Đại La, Lưu Cơ đã có công cải tạo thành một tòa thành của nước Đại Việt.

Theo sử sách còn lưu giữ lại, trước thời điểm Lý Công Uẩn rời đô về đây, tòa thành này hoàn toàn đã ngoảnh về hướng Nam như một sự minh định sự độc lập tự chủ. Tiến sĩ Nguyễn Việt, Giám đốc Trung tâm tiền sử Đông Nam Á cho rằng: "Lưu Cơ là người đầu tiên biến tòa thành Đại La thuộc địa hướng Bắc trở thành một tòa thành hướng Nam độc lập tự chủ. Vì khi đó, Hoàng đế Đại Việt ở Hoa Lư, tức ở về phía Nam tòa thành Đại La. Vì vậy, chắc chắn mọi hướng nhìn của cổng thành và dinh thự đời các Tiết độ sứ cũ phải được sửa đổi. Đó chính là điều lý giải hợp lý nhất cho sự có mặt phong phú di tích kiến trúc Hoa Lư tại các cuộc khai quật Hoàng thành Thăng Long gần đây".


Việc đổi hướng mở cổng thành của 1.000 năm trước đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong việc khẳng định độc lập chủ quyền và khát vọng phát triển của Hà Nội.


 

Theo VnMedia


Gửi ý kiến của bạn
(Xin hãy viết chữ có dấu! Xin cảm ơn!)