Ξ|Ξ   HIẾU - HỶ ::. NGÀY GIỖ - TƯỞNG NIỆM.
Đăng ngày 1/12/2010
E-mail     Bản in

Anh hùng Lao động LƯU BAN và Linh mục TRƯỜNG THĂNG
Những năm 1980 -1984, Hợp tác xã Duy Sơn 2 được mọi người ca tụng. Nhằm mục tiêu “tốt đạo, đẹp đời”,” vì nhân dân phục vụ”, ông chủ nhiệm Hợp tác xã Duy Son 2 , Lưu Ban, sau là Anh hùng lao động và linh mục Antôn được coi là những nhân vật tiêu biểu. Ông Lưu Ban từ trần ngày 31-12-2009, thọ 83 tuổi. Trong một chuyến thăm viếng ông Lưu Ban, phóng viên Khiếu Thị Hoài có bài viết sau đây.

ANH HÙNG LAO ĐỘNG LƯU  BAN VÀ  LINH MỤC TRƯỜNG THĂNG 1997

Thủy điện Duy Sơn 2 không có hồ chứa, chỉ xử dụng  độ cao 25o mét cột nước từ một con suối. Chỉ cần vài bao cát đủ chuyển nước vào mương thủy điện. Mùa mưa rất ổn định. Mùa hè nếu biết giữ gìn trồng rừng đầu nguồn giữ nước các trận mưa… rất lợi. Mỗi trận mưa coi như tiếp tế “xăng dầu”. Nước xả xuống dùng cho nông nghiệp cho đến hết mùa hè thu. Mùa lụt..xả tất cả nên không gây nguy hiểm. Cuối đông tích nước lại để  lo vụ đông xuân.

Do cách làm “nông dân”, ngoại trừ trang thiết bị khoa học…không cần bản vẻ nên khỏi tốn tiền thiết kế phí, công ty, máy móc hiện đại, lo lót tham nhũng… vậy mà công trình nầy phục vụ tốt cho nông nghiệp và năng lượng gần 30 năm qua.

KHU VỰC THỦY ĐIỆN DUY SƠN 2 THEO WIKIMAPIA.

LƯNG CHỪNG NÚI CHÓP XÔI. NƠI 1.700 MÉT KÊNH MƯƠNG, CẦU MÁNG DẪN NƯỚC ĐẾN BỂ ÁP LỰC , CAO ĐỘ TRÊN 110 MÉT, THEO CÁC ỐNG THÉP DÀI 25O MÉT, NƯỚC DỒN VÀO MÁY TUA BIN VÀ PHÁT ĐIỆN.

Tình bằng hữu

của Anh hùng lao động và vị Linh mục

Trong thời gian tìm hiểu tư liệu để viết bài về người anh hùng lao động Lưu Ban và HTX Duy Sơn II, một đồng nghiệp đã giới thiệu tôi gặp linh mục Nguyễn Trường Thăng- người thấu hiểu và gắn bó với anh hùng Lưu Ban những năm xây dựng thuỷ điện Duy Sơn – một công trình lịch sử không chỉ nổi tiếng trên mảnh đất Duy Xuyên – Quảng Nam mà còn vang lừng danh thơm trên khắp cả nước trong suốt một phần tư thế kỷ qua. Dường như ý định về Duy Sơn thăm ông bạn già đã có sẵn từ trước nên mới chỉ vừa nghe tôi ngỏ lời cùng về thăm anh hùng Lưu Ban, cha Nguyễn Trường Thăng đồng ý ngay. Nhờ vậy, tôi mới may mắn được cùng lúc tiếp xúc với hai con người từng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với thuỷ điện Duy Sơn những ngày đầu xây dựng.

Trên đường đi, cha Thăng chỉ cho tôi dãy núi trước mặt, nói: “Chị nhìn kia, cả dãy núi đó được gọi là Hòn Tàu vì trông nó giống như một con tàu đang lao ra biển. Thuỷ điện Duy Sơn nằm ở chỗ đằng kia. Rồi tôi sẽ đưa chị lên đó tham quan, nhưng bây giờ chúng ta vô thăm ông Lưu Ban trước đã”. Bà vợ ông Lưu Ban đang phơi thóc, nhận ra linh mục Nguyễn Trường Thăng vội vào giường gọi: “Ông ơi, cha Thăng về ông này”. Rồi bà vừa dìu ông ra bàn vừa nói: “Ông ấy mới nhắc cha mấy bữa ni, nói ước chi khoẻ để xuống Hội An thăm cha Thăng”. Mặc dù đã chuẩn bị sẵn tâm lý do đồng nghiệp báo trước về sức khoẻ cũng như cái sự nhớ nhớ quên quên của ông nhưng thú thật khi thấy cảnh này, tôi không sao tránh khỏi ái ngại: Ông ốm yếu thế này, rồi tôi biết trò chuyện sao đây để khai thác những câu chuyện đã diễn ra gần 30 năm trời? Ấy vậy mà chỉ vừa kịp thấy cha Thăng, đôi mắt người anh hùng sáng lên. Rồi vừa kịp nghe cha Thăng giới thiệu tôi đến trò chuyện về cái thuở ban đầu làm thuỷ điện, ông Ban nói ngay: “Tưởng chi, cái việc làm thuỷ điện Duy Sơn ấy hả, bây chừ cho tôi làm, tôi làm còn ngon hơn trước”.

LƯU BAN, ANH HÙNG LAO ĐỘNG.

KHIÊU THỊ HOÀI, ÔNG BÀ LƯU BAN, LM ANTÔN.

Trước mặt tôi, một vị linh mục đã gần thất thập, một vị anh hùng đã ngoài tám mươi, gặp lại nhau sau gần một năm trời đang trò chuyện về công việc của hai mươi mấy năm về trước mà sôi nổi như hai thanh niên tràn đầy nhiệt huyết đang nói về chuyện mới xảy ra ngày hôm qua. Mới hay, cái sự hiểu nhau đâu cần phải gặp nhiều, nói lắm nhưng đến khi đã gặp, đã nói thì lập tức đồng điệu như một bản hoà âm. Câu chuyện xen lẫn lúc hỏi han về sức khoẻ,  về con cháu của ông Lưu Ban lúc hồi tưởng những kỷ niệm vui buồn, những khó khăn, thuận lợi, thất bại, thành công… trong những ngày xây dựng thủy điện. Có lúc cha Thăng ngừng trò chuyện, quay qua nói với tôi: “Sau này nhiều người nói đến việc học tập ông Lưu Ban nhưng tôi nghĩ học chi nổi, ông Lưu Ban là người có cách nhìn nhận công việc, cách thức đạt tới thành công mà không ai có thể làm theo. Ông ấy là người ít học hành nhưng tư duy thực tế của ông ấy lại rất tốt. Cái ngày ông Lưu Ban đi tham quan thủy điện Sông Cùng ở Đại Lộc, ước muốn làm thuỷ điện trên mảnh đất Duy Sơn đã nhen nhóm trong con người ông. Kiến thức của ông ấy khi đó chỉ vỏn vẹn một câu ông nghe được từ cô con gái học lớp 5 đang học thuộc bài, rằng: “Gió và nước làm ra điện”. Thậm chí, mãi sau này ông mới biết AC50 là cái dây điện nhưng ngay khi đi quan sát, ông đã so sánh và tự hỏi: “Độ dốc và nguồn nước ở Nông Sơn không nhiều bằng mình. Tại răng họ làm được mà mình lại không?””

Những năm đó, kinh tế còn khó khăn vậy mà ông Lưu Ban – một người chưa có kiến thức gì, chưa có kinh nghiệm gì lại dám nảy nòi cái ý định làm thuỷ điện. Rồi nhân dân, người bên giáo, người bên lương, làm sao bà con có thể dễ dàng đồng lòng tin theo để đi “đèo bòng” thêm cực khổ, gánh vác trên vai chuyện chưa từng có trong đời: Vừa là con chiên, vừa là xã viên hợp tác xã?  Trả lời thắc mắc của tôi, ông Lưu Ban bảo: “Dạo đó mười người nói ra hết bảy, cán bộ huyện mà còn bảo tôi lẩn thẩn, cực khổ ni mà ai nghe ông, làm thuỷ điện thì phải khoa học, trung ương làm chưa được chứ đừng nói ông mà làm chi! Duy Sơn II, dân công giáo chiếm tới 20% nói dễ chi nghe. Chính thời điểm này tôi gặp cha Thăng. Tôi nói: “Vì cái chung, cha nên vận động các sơ, dì cùng cha đi cõng giúp cát lên núi làm thuỷ điện cho bà con đi theo”. “Hồi đó cha nghĩ sao mà nhận lời cộng tác với một công trình đầy phiêu lưu như vậy?” . “Răng lại là phiêu lưu? Tôi nghĩ một công trình lớn như vậy, có ý nghĩa như vậy thì nhà nước sẽ giúp chứ, một việc làm vì lợi ích chung cho nhiều người như vậy thì sẽ có nhiều người ủng hộ chứ. Phải thành công. Phải có kết quả chứ. Tôi theo. Tôi vác cát, sức tôi thì vác được bao nhiêu lắm, mỗi lần tôi cũng chỉ vác được chừng chục ký cát, ximăng nhưng giáo dân nghe tôi nói, thấy tôi cõng cát mà leo dốc, bám núi đi miết là họ theo liền. Rồi từ đó tạo ra một phong trào trong các đoàn thể, các xã rồi cả huyện cùng tham gia”. Ông Lưu Ban cười cười: “Dạo nớ cũng nhờ cha Thăng sưu tầm tư liệu trên sách, báo đưa cho tôi đọc rồi tôi vừa làm vừa biết thêm về thuỷ điện chứ tôi có biết chi mô. Nghĩ lại thì kể ra mình cũng lãng mạn thật”.  Cha Thăng bảo: “Thì đã nói ông là con người của tư duy thực tế mà. Ngay cái việc tính toán để nước chảy tràn trên một ghềnh đá thay vì phải tốn 400 tấn xi măng để làm đường máng dẫn nước xả thì cho đến giờ tôi vẫn phục ông Lưu Ban. Hồi đó, bể áp lực ở trên độ cao 200 m, các kỹ sư đã tính đến việc phải làm bê tông xây một bể chứa dưới thấp để xả nước. Nhưng ông Lưu Ban này là người rất thông minh và thực tế. Ông nói để ông tính! Và cuối cùng ông đã tìm một ghềnh đá cho nước xả tràn trên đó, vừa không tốn 400 tấn xi măng, vừa tạo một thác nước tuyệt đẹp trong khu vực thuỷ điện. Rồi lát tôi sẽ đưa cô tới thăm cái thác đó. Đẹp lắm. Sản phẩm của óc thực tế Lưu Ban đấy!” .

CÁC ỐNG THÉP NẦY ĐƯỢC ĐƯA LÊN BẰNG…VAI XÃ VIÊN.

Nhà máy thuỷ điện Duy Sơn II với công suất 400KW đã chính thức đi vào hoạt động đúng vào dịp lễ Noel năm 1983, đem lại nguồn năng lượng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của xã viên và tiến tới cả xã Duy Sơn có điện sau đó còn chuyển tải điện phục vụ nhân dân các xã lân cận. Duy Sơn II trở thành điểm sáng về làm thuỷ điện nhỏ của cả nước. Trong suốt buổi trò chuyện, ông Lưu Ban nhắc đi nhắc lại “linh mục Nguyễn Trường Thăng là một người trí thức” còn cha Thăng nói ông Lưu Ban là người có cái tâm sáng và tư duy thông minh, thực tế. Cười đùa rôm rả rồi có lúc hai ông cùng chùng xuống: “Thời đó chúng ta làm kinh tế và kỹ thuật quá lãng mạn”. Không lãng mạn sao được khi có lúc ông Lưu Ban đi vay thêm 11 triệu của ngân hàng huyện mà không có lấy một bản kế hoạch chi hết. Ông chỉ nói: “Tôi mượn tiền để làm việc cho dân, tôi đem tôi ra mà hứa rằng sẽ không để làm mất tiền vô ích”. Vậy mà vay được. Rồi sau này, trong một dịp đến thăm công trình thuỷ điện Duy Sơn II, ông Phan Văn Khải (lúc ấy là Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch nhà nước) đã hiểu rõ tình hình và đề nghị Hội đồng bộ trưởng giả quyết phá cơ chế cho Duy Sơn II vay vốn. Vay được 500 triệu đồng, số tiền tương đương một nửa sản lượng lương thực cả năm của HTX, lãnh đạo HTX đã nhanh chóng đưa thuỷ điện Duy Sơn II tăng công suất lên 1.200KW và sau một thời gian không lâu, HTX đã hoàn trả đủ tiền vay cả gốc cả lãi cho ngân hàng trước thời hạn. Đến ngày 2/9/1990, thuỷ điện Duy Sơn đã hoà vào lưới điện quốc gia và hoạt động liên tục, mỗi năm đạt sản lượng điện từ 2-2,2 triệu KW mang lại doanh thu từ 1,5 – 1,8 tỉ đồng. Nhắc về thuỷ điện Duy Sơn II, cả hai ông đều tự hào rằng hồi nớ đã tiết kiệm được hẳn một khoản tiền lớn cho cái việc gọi là thiết kế phí. Tất cả cũng là nhờ vào óc thực tế và tinh thần lãng mạn cách mạng của ông Lưu Ban.

MỘT TRONG HAI TỔ MÁY CÔNG XUẤT 450 KW ..ĐÊM, NGÀY PHẢI CÓ  HAI NGƯỜI  THƯỜNG XUYÊN ĐỔI CA TRỰC “LÁI” NƯỚC. ÁP LỰC NƯỚC KHÔNG ĐỦ, VẶN NƯỚC THÊM; ĐIỆN TĂNG VỤT, ĐÓNG BỚT NƯỚC…MẮT DÁN LÊN CÁI ĐỒNG HỒ  TRƯỚC MẶT GIỮ ỔN ÁP 7.500 VOLT, PHẢI NÓI LÀ QUÁ XÁ…CỰC.

TỔ MÁY ĐIỀU TỐC TỰ ĐỘNG 900 KW NĂM 1990.

Con người có công ấy cũng có khi bị hiểu lầm tới mức suýt nữa mất hết danh dự. Tôi ý tứ hỏi về cái ngày ông Lưu Ban bị người ta khiếu kiện. Ông nói ông đã quên rồi. Đúng là ông Ban đã quên cái ngày trước khi ông được nhận danh hiệu anh hùng lao động do Nhà nước trao tặng không lâu, ông bị một số người dán tờ tố cáo hòng làm mất uy tín của ông. Hồi đó, cha Thăng, người hiểu ông và cũng hiểu cái lẽ đời của một số ít “quần chúng nông nổi” nên đã tổ chức một buổi mitting: “Nào ai có ý kiến gì về chủ nhiệm HTX Lưu Ban thì xin đứng dậy trình bày!”. Chờ mãi rồi cũng có hai ý kiến: “Một là tại sao ông Lưu Ban lại lấy lúa của dân? Hai là tại sao ông để đội trưởng la rầy xã viên?” Cha Thăng khi đó đứng ra nói: “Cả hai ý kiến đều không đủ kết tội ông Lưu Ban vì theo tiêu chuẩn của Nhà nước, chủ nhiệm nào giỏi thì được thưởng, như vậy, ông Lưu Ban đâu có vô cớ lấy lúa của dân. Còn việc một đội trưởng trong số 12 đội trưởng của HTX la rầy xã viên thì tại sao lại đổ trách nhiệm đó lên đầu một mình chủ nhiệm HTX? Chúng ta phải thấy những gì ông Lưu Ban đã làm được. Trong cả tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, HTX Duy Sơn II được đánh giá cao bởi trong khi các HTX khác chỉ có 600gam lúa/công thì ở HTX Duy Sơn II, một công được tính bằng 3,5kg lúa. Thực tế là chén cơm của xã viên ở đây đã đầy hơn cũng nhờ có công lao của ông Lưu Ban, tại sao mọi người không thấy điều đó mà chỉ lấy những lý do vụn vặt, không đáng kể để tố cáo chủ nhiệm?” Nghe cha Thăng nói, mọi người vỗ tay rào rào. Ông Lưu Ban thoát được nỗi oan. Đúng là ông Ban đã quên rồi cái ngày mình đứng như một kẻ có tội trước một đám đông quần chúng bồng bột, hồ đồ nhưng khi nghe cha Thăng nhắc, ông nói: “Đúng rồi, đúng là có chuyện đó. Vậy mà tôi quên, tôi quên. Ngày đó cha đã cứu danh dự cho tôi. Thật là trong lúc cháy nhà, người la làng quan trọng hơn người chữa lửa.” . Rồi hai ông cùng cả cười: “Âu cũng là cái hoạn nạn của đời con người  như sông có lúc…Mà cũng do nhận thức của một số bà con còn kém thôi”.

Nhân tiện, tôi hỏi luôn: “Ông thấy thế hệ kế nhiệm ông làm việc ra sao? Ông về hưu rồi có nuối tiếc gì không?” . Tưởng rằng sẽ nhận được sự trách móc thông thường theo môtip tự tôn cái Tôi, cái thời của mình mà xem thường thời sau, nhưng khộng, ông chỉ nói: “Mỗi thời mỗi khác, cái thời của tôi học hành tuy ít nhưng cái khó ló cái khôn, rồi chính cái sự lãng mạn cách mạn đã thắng. Tiếc gì ư? Có chi mà tiếc. Tôi thấy cuộc sống của bà con được nâng lên, mọi người có công ăn việc làm, trẻ con được đi học thì mừng hung chứ. Mình rồi nhiệm vụ của mình rồi. Giờ mỗi tháng nhận 600 ngàn tiền lương, ngày lễ, ngày tết nhận quà, tiếp lứa kế nhiệm đến thăm hỏi, trò chuyện. Vậy thì tôi có chi mà phải tiếc. Nhưng cái mộng của tôi còn dữ lắm.”. Tôi hỏi “mộng gì?”. Ông nói: “Người ta làm được cáp treo du lịch, tại sao ta không làm được. Khu du lịch sinh thái Duy Sơn phong cảnh hữu tình như rứa mà làm được cái cáp treo, ngồi trên đó mà nhìn xuống thì đã con mắt lắm”. Ông nói, ông có cái sung sướng là bây giờ, mỗi khi ngủ đều như có người tới dẫn ông đi khắp nơi coi ngó trời đất, núi non, tỉnh dậy mới thấy mình còn đang nằm đây. Ông nói rồi ông cười khà khà, đôi mắt ánh lên như mắt trẻ thơ. Nhìn ông, tôi nhớ cách đây không lâu, trong những bài báo mà tôi đọc được đều nói ông đau và đã lẫn nhưng khi hỏi tới những nghĩ suy trăn trở, ông lại nổi lên: “Có những việc “cổ cúa” lắm, chướng tai gai mắt không chịu được….”. Tôi tự hỏi, phải chăng dường như sau khi trải qua trận đau thập tử nhất sinh hay là đã tới lúc ông đạt được đến độ giác ngộ nào đó mà ông trở lên hỉ xả mọi chuyện, biết đủ để vui với từng phút giây thường hằng. Ông khoe: “cháu nội tôi đấy, mới 27 tuổi đã làm giám đốc, giỏi lắm. Con cái rồi mỗi đứa mỗi nơi, giờ hai vợ chồng ở nhà với nhau, tất cả là tôi nhờ vào bà vợ, còn tôi thì sung sướng lắm, nằm, ngồi nghe radio, xem tivi và mơ mộng.Tôi chụp ảnh hai vợ chồng ông. Cả hai ông bà cùng cười, nụ cười hạnh phúc của những con người bình thường. Họ đã biết đủ, biết quên những gì cần quên, nhớ những gì cần nhớ để vui trong từng khoảnh khắc còn lại của cuộc đời.

Tạm biệt vợ chồng người anh hùng, tôi và cha Thăng lên thuỷ điện Duy Sơn II. Tôi đứng giữa một vùng sinh thái với hồ nước, cây xanh và tiếng nước chảy, chim hót, tâm hồn chợt lắng lại những ồn ào. Cha Thăng chỉ cho tôi những tảng đá hình đụn rơm, hình đàn voi chầu trên đường lên công trình thuỷ điện rồi nói: “Ông Ban là người biết lắng nghe. Dạo đó, làm thuỷ điện, người ta đã tính đến việc xẻ những tảng đá này để lấy đá làm mương. Nhưng tôi khuyên ông ấy thuyết phục mọi người tìm cách khác và giữ lại những tảng đá này. Nhờ vậy mà con đường vào thuỷ điện hôm nay còn vẻ hoang dại, thơ mộng, rất có ích cho việc khai thác du lịch sinh thái”. Cha Thăng còn nói nhiều về ông Lưu Ban, nhất là khi chúng tôi đứng bên tổ máy phát điện, nghe tiếng máy chạy, tiếng nước réo sôi dưới chân, lòng không khỏi không thán phục một con người bình thường, học vấn có hạn mà dám tự tin làm ra công trình thuỷ điện, tạo ra điện năng- khâu đột phá cơ bản làm nền tảng và xuyên suốt các thời kỳ chuyển đổi mô hình, đa dạng hoá ngành nghề tiểu thủ công nghiệp để chén cơm của bà con nông dân ngày một đầy lên và đời sống trở lên phát triển.

Vẳng bên tai tôi, lời ông Lưu Ban nhẹ như một hơi thở nhẹ “Mình rồi nhiệm vụ của mình rồi..”. Ông đã thôi không còn những sân si như đã từng nhưng ông vẫn nuôi khát vọng với những “ước mộng ghê gớm lắm!”, vẫn hân hoan khi gặp tri kỷ và nói như không thể dứt về những ngày làm thuỷ điện năm xưa. Rồi tôi nhìn cha Thăng và nghĩ đến cái bắt tay của ông với ông Lưu Ban trong việc làm thuỷ điện gần ba chục năm trước mà cảm kích. Tất cả cũng vì lợi ích chung muốn đưa bà con, không kể lương hay giáo về phía ánh sáng hạnh phúc mà hai con người: một ông nông dân chỉ có bằng yếu lược thời Pháp- một ông Việt cộng nằm vùng- với một ông cha xứ được đào tạo bài bản đã hoà cùng trong một ý tưởng sáng danh Chúa Trời bằng cuộc sống bình an ấm no giữa lòng trần thế.

SAU KHI PHÁT ĐIỆN…NƯỚC VỀ HỒ CHỨA.

SUỐI NƯỚC THIÊN NHIÊN CẠNH NHÀ MÁY

 

 

Theo KHIẾU THỊ HOÀI


Gửi ý kiến của bạn
(Xin hãy viết chữ có dấu! Xin cảm ơn!)